View Full Version : Hồ Biểu Chánh
Xa xôi
21-04-2009, 02:16 PM
Tôi đặc biệt thích cách viết của Ông. Thể loại nào cũng được tôi ưu ái t́m đọc. " Lời thề trước miễu" Bỏ chồng, ở theo thời. Ngọn cỏ gió đùa. Con nhà nghèo. Con nhà giàu. Tân phong nữ sĩ... Và một số truyện ngắn mà ít ai biết đến nhưng cũng rất sâu sắc và đáng sưu tầm ...
Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của Văn học Việt Nam giai đoạn Giao thời 1900-1930.
Tiểu thuyết của ông bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam Bộ vào những thập niên đầu của thế kỷ XX. Đó là sự tha hóa của con người trước sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thượng, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới...
Lời viết b́nh dị, ngôn ngữ gần với lời nói thường ngày là một ưu thế khiến tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chiếm được cảm t́nh đặc biệt của người dân Nam Bộ.
Xin giới thiệu đến bạn. Hăy đọc và cùng cảm nhận cùng tôi nhé
Xa xôi
21-04-2009, 02:18 PM
Ở THEO THỜI- Hồ Biểu Chánh
Lối bốn giờ chiều, nhờ mấy cây cồng lớn của làng trồng chung quanh nhà việc Tiển Cần che áng mặt trời, nên cái sân rộng trước nhà việc kêu là sân chợ cũ, có chỗ c̣n nắng, mà có chỗ đă mát. Một chú bán ḿ thánh, để gánh trên lề đường, đứng gơ sanh lắc cắc cụp. Một chị bán chè thưng đi dọc theo trước phố rao hàng tiếng nghe ngọt xớt. Sắp con nít tựu mấy chỗ có bóng mát mà trửng giỡn, đứa chạy rần rật, đứa la om ṣm.
Th́nh ĺnh có cái xe đ̣, chở đầy hành khách, ầm ầm chạy vô cái sân ấy, bóp kèn te te, bụi bay mù mịt. Sắp con nít la om: "Xe Trà Vinh qua, xe Trà Vinh qua" rồi lật đật đứng nép vô lề đường mà coi xe tới.
Xe hơi chạy chậm chậm rồi ngừng tại giữa sân. Hành khách chộn rộn leo xuống, người xách gói, kẻ bồng con, lại có nhiều người xúm chung quanh xe, chờ mà lấy hành lư. Trong đám hành khách lấy đồ đây, có một người trai, nước da trắng, gương mặt tṛn, sơn đ́nh cao, chơn mày rậm, ḿnh mặc một bộ đồ âu phục bằng bố xám, đầu đội nón trắng, chơn mang giầy đen, đứng ngó dáo dác, bộ coi ngại ngùng lắm.
Trên xe hơi bỏ xuống một cái gương lớn. Người trai nhắc để dựa bên lề đường rồi nhắm mấy đứa con nít đứng gần đó, mà hỏi rằng: ''Mấy em biết nhà ông Đốc học ở chỗ nào, xin làm ơn chỉ giùm cho qua chút?" Có hai đứa nhỏ giành nhau mà đáp rằng: "Đây, nhà ông Đốc ở phía sau nhà việc đây".
Người ấy hỏi: "Hai em dắt giùm qua lại đó được hay không?" Hai đứa nhỏ đáp: "Được".
Người ấy ngó cái rương rồi nói rằng: "C̣n cái rương đây làm sao? Hai em biết ai làm cu ly, kêu giùm cho qua một người đặng qua mướn vác cái rương rồi đi mới được chớ".
Một đứa nhỏ liền kêu một người đương đứng gần đó mà nói rằng: "Ê! Anh Tao, thầy mướn vác cái rương đây nè, vác lại nhà ông Đốc rồi thầy cho tiền xài". Người trai ấy trạc chừng mười bảy, mười tám tuổi, trên đầu tóc chôm bôm, ở trần đưa lưng đen chạy, mặc một cái quần vắn mốc thít, thủng thẳng bước lại hỏi vác đi đâu nhớm thử cái rương, rồi ngồi xuống kê vai mà vác.
Hai đứa nhỏ đi trước, người mặc đồ Tây với người vác rương đi theo sau. Mấy người đứng chơi tại sân, họ ngó theo mà nói với nhau rằng: "Thầy nào đó lạ mà hỏi thăm ông Đốc học vậy ḱa? Chắc là thầy giáo mới đổi lại đây chớ ǵ".
Phía sau nhà việc Tiểu Cần, có một dăy phố trệt mười căn, lợp ngói, vách ván, lót gạch, tuy phố cũ mà sạch sẽ. Đi tới hai căn chót, hai đứa nhỏ đứng lại mà chỉ rằng: "Đây, ông Đốc ở hai căn đầu đây".
Người lạ, mặc đồ Tây đó, ngó vô th́ thấy nhà dọn bàn ghế hực hỡ, trước cửa có rào hàng rào tre, làm thành một cái sân nhỏ nhỏ. Trong sân có để chín mười chậu, cái th́ trồng cau đỏ, cái th́ trồng cau vàng, cái th́ trồng kiểng bằng cây sộp, cây ngâu. Dựa theo hàng rào lại có trồng chuối nước với móng tay, trổ bông chỗ đỏ, chỗ trắng, chỗ tím, chỗ vàng, coi rất đẹp mắt. Người ấy day lại tạ ơn hai đứa nhỏ, rồi xăm xăm bước vô sân với người vác rương.
Trong nhà có cô thiếu nữ trạc chừng mười chín hoặc hai mươi tuổi, mặc quần lụa trắng, mặc áo bà ba cũng bằng lụa trắng, tóc gỡ láng nhuốt, gương mặt sáng rỡ, đương ngồi trên mà thêu. Cô thấy khách lạ bước vô, cô cúi đầu thi lễ, rồi bước xuống đất đứng hỏi rằng: "Chào thầy, chẳng biết thầy ở đâu lại?"
Người khách lột nón, đáp lễ và trả lời rằng:
- Thưa, tôi là thầy giáo mới đổi lại. Không biết phải nhà ông Đốc ở đây chăng?
Cô thiếu nữ chúm chím cười rồi đáp rằng:
- Thưa phải, nhà này là nhà ông Đốc. Em xin mời thầy vào.
- Thưa, không biết có ông ở nhà chăng?
- Ba tôi ở đằng trường học, đi lại đẳng với mấy thầy giáo từ hồi hai giờ rưỡi tới giờ... Mời thầy ngồi... Ba tôi có nói khai trường này sẽ có thêm một thầy giáo mới, té ra thầy đây hay sao?
- Thưa, phải.
- Thầy lại tới hồi nào?
- Tôi đi xe mới qua tới đây.
- Mời thầy ngồi chớ.
Thầy giáo đứng bợ ngợ, ngó mấy cái ghế, ngó người vác rương, rồi nói rằng: "Thưa cô, để tôi đi thẳng lại trường tŕnh diện với ông Đốc. Cô làm ơn cho tôi gởi cái rương đây được hay không?"
Cô thiếu nữ đáp rằng: "Thầy muốn lại trường kiếm ba tôi cũng được. Thầy để rương lại đây".
Người vác rương nghe nói liền để rương ngoài hàng ba. Cô thiếu nữ đưa tay ngoắt biểu đem rương vô để dựa cái bàn viết. Thầy giáo móc túi lấy một cắc bạc mà cho người vác rương rồi cậy dắt giùm qua trường. Thầy cúi đầu từ giă cô thiếu nữ rồi bước ra đi.
Thầy giáo mới đổi lại Tiểu Cần đây tên là Hà Tấn Phát, năm nay thầy được hai mươi hai tuổi. Thầy góc ở Vĩnh Long, khi mới nên mười tuổi th́ mẹ đă mất. Ông thân thầy làm đội mă tà, v́ có một ḿnh thầy, nên ráng cho thầy ăn học. Hồi nhỏ thầy học tại trường tỉnh Vĩnh Long. Thầy thi đậu vào trường sư phạm sài G̣n học mới được hai năm kế ông thân thầy mất nữa. Thầy bơ vơ, tưởng là phải bỏ trường đi làm kiếm tiền nuôi thân. May nhờ có một người anh nhà bác, tên là Hà Tấn Tài, giúp việc cho một hăng tàu đ̣ lớn ở Sài G̣n, thấy thầy coi cút mà lại học giỏi th́ thương, nên lănh nuôi thầy, lúc học mỗi tháng cho thầy một vài đồng bạc ăn bánh mua giấy, lúc băi trường đem thầy về nhà nuôi cơm, hễ áo quần rách th́ may cho thầy bận.
(C̣n nữa)...
Xa xôi
21-04-2009, 02:22 PM
Thầy Hà Tấn Tài tuy giúp việc hăng buôn, mà thầy khá lắm. Thầy ăn lương lớn mà lại có tánh tiện tặn, nên tháng nào thầy cũng có dư tiền. Hồi trước thầy lại lănh gia tài bên vợ được mười mấy mẫu ruộng và mấy ngàn đồng bạc. Thầy nhập số bạc này với số tiền dư mà cho vay. Thầy làm trong mấy năm th́ đă có bạc muôn. Thầy mua đất cất nhà ở bên Khánh Hội. Thầy lại có mua thêm ba mẫu ruộng ở phía sau nhà của thầy nữa. Thầy mua miếng ruộng này được vài ba năm, kế nhà nước đào cái kinh Xóm Chiếu vô Chợ Lớn đi ngang qua ruộng thầy. Nhà nước trả tiền thiệt hại cho thầy tính mỗi thước tới bốn đồng rưỡi. Thầy lănh số tiền này được tới gần bốn mươi ngàn đồng. Thầy cũng c̣n đất dư; có một hăng buôn hỏi mua đặng cất nhà máy, thầy chấn bán bớt một miếng năm mươi sào, được hai mươi lăm ngàn đồng nữa, thành ra thầy là một người giàu lớn. Thầy có tiền nhiều, mà vợ lại hiền đức. Vợ chồng không có con, nên tuy giàu mà không được vui, vợ cứ đi chùa khẩn vái cầu con. Thầy nuôi Hà Tấn Phát làm nghĩa, chẳng phải Phật Trời muốn thưởng cái ḷng tốt của thầy đó hay không mà cách ít tháng vợ thầy có nghén rồi sanh một đứa con trai mạnh mẽ ngộ nghiơnh hết sức. Vợ chồng thầy mừng rồi lại tưởng cái phước ấy là tại nuôi Hà Tấn Phát, nên càng đem ḷng thương em. Nhớ cái vận hội như vậy đó, nên Hà Tấn Phát no cơm ấm áo mà học, khỏi lo đói rách nữa.
Hà Tấn Phát xét phận coi cút nghèo nàn, nên thầy chủ tâm lo học, quyết thi cho đậu đặng lập thân. Thiệt trong lớp thầy học giỏi hơn chúng bạn hết thảy, đến chừng thi ra trường, thầy cũng đậu đầu. Thầy thi đậu năm trước mà v́ không có khuyết thầy giáo, nên qua năm sau nhà nước mới cấp bằng và bổ thầy đi dạy trường Tiểu Cần đây.
Trường học Tiểu Cần là trường tiểu học mới lập thành trường sơ học, năm này mới có lớp nhứt.
Thầy giáo cai quản trường này tên là Thiện Tâm vốn là một vị giáo sư chánh ngạch; thầy đă được bốn mươi tám tuổi, coi trường này đă trên mười năm, tổng làng dân sự trước kính tuổi tác, sau nghĩ công lao, nên kêu tưng thầy là "ông Đốc học".
Ông Đốc Lê Thiện Tâm có ba người con:
1) con trai tên là Lê Thiện Tánh, vốn ở trường cao đẳng sư phạm Hà Nội xuất thân, hiện nay đang làm giáo sư trường trung đẳng Pháp Việt Pétrus Kư trên Sài G̣n;
2) Lê Thị Thiện Tú, trường trung đẳng nữ học hiệu năm thứ ba, tại Sài G̣n, ấy là cô mà thầy Hà Tấn Phát gặp tại nhà đó;
3) con trai, tên là Lê Thiện Chí, mới mười lăm tuổi, c̣n học tại trường trung đẳng Mỹ Tho.
Thầy Hà Tấn Phát lại tới trường học, thầy thấy trong một cái pḥng nhỏ có hai người đương soạn sổ sách, cả hai đều mặc âu phục, song một người lớn tuổi, tóc đă bạc hoa râm, c̣n một người th́ trẻ hơn trạc chừng ba lăm tuổi. Thầy nhắm chừng người lớn tuổi đó là ông Đốc, bèn gơ cửa, rồi bước vô đầu thi lễ mà nói rằng: "Tôi là Hà Tấn Phát, được giấy quan trên bổ tôi xuống dạy trường này, nên tôi kiếm ông Đốc mà tŕnh diện".
Ông Đốc Lê Thiện Tâm đứng dậy, đưa tay mà bắt tay thầy Hà Tấn Phát và đáp rằng: "Té ra đi đon là thầy giáo mới. Phải, tôi có được tờ của quan Giám đốc Trà Vinh hổm nay. Tôi mới nói chuyện với thầy nh́ hồi năy đây, tôi nói thế nào mai đây đi đon cũng tới. Đi đon tới sớm vậy tốt quá. Thầy đây là M. Nguyên, năm rồi dạy lớp nh́ năm thứ hai".
Thầy Phát liền cúi đầu chào M. Nguyên, hai người bắt tay mừng nhau.
Ông Đốc kéo ghế mời thầy Phát ngồi rồi nói rằng:
- Thầy lại tới hồi nào?
- Thưa, tôi mới tới tức th́ đây. Tôi hỏi thăm, tôi lại nhà ông. Người nhà nói ông ở trong trường, tôi xin gởi cái rương, rồi tôi đi liền tại đây.
- Thầy lại một ḿnh hay là có vợ con?
- Thưa, tôi mới ra trường năm ngoái, tôi chưa có vợ. Tôi lại có một ḿnh.
- Thầy có quen với ai ở đây hay không?
- Thưa, không. Thuở nay tôi mới đến Tiểu Cần lần thứ nhứt.
- Tôi nghe nói kỳ thi năm ngoái thầy đậu số một phải không?
- Thưa, phải... nhưng mà cái đó là cái may...
- Không, thi mà đậu đầu là giỏi lắm, chớ may giống ǵ. Tôi nghe thầy giỏi nên hổm nay tôi nhứt định để thầy dạy lớp nhứt đa.
- Thưa ông, tôi mới ra trường, chưa quen cách thức dạy, xin ông làm ơn cho dạy lớp nhỏ đặng tôi tập lần lần.
- Thầy khéo khiêm nhượng th́ thôi! Ở trường sư phạm mà ra, lại thi đậu thứ nhứt nữa, cái ǵ lại chưa quen cách thức dạy. Trường Tiểu Cần năm nay mới mở thêm lớp nhứt. Số học tṛ lớp nhứt kể chắc chừng tám mươi. Thầy mới ra trường sức c̣n mạnh mẽ, chí c̣n hăng hái, thầy phải lănh lớp nhứt, chớ nạnh cho ai được. Thầy nh́ đây thầy phải ở lớp nh́ đặng thầy kiếm học tṛ. Thầy dạy lớp nhứt, thầy ráng cuối năm học tṛ đậu được nhiều, th́ trường ḿnh vinh quang lắm. Tôi trông cậy nơi thầy đặng làm cho trường Tiểu Cần nổi danh, làm cho cha mẹ học tṛ đẹp ư. Thầy không nên từ chối.
- Tôi c̣n nhỏ tuổi, mà lại chưa lịch lăm về chức nghiệp. Xin ông thương. Tôi sợ không kham trách nhậm, chớ không phải tôi dám lánh nặng t́m nhẹ. Nếu ông buộc tôi phải dạy lớp nhứt, xin ông làm ơn chỉ bảo d́u dắt tô giùm, được như vậy tôi mới dám.
- Chớ sao. Tôi cũng phụ với thầy chớ.
- Thưa, trường này hết thảy được bao nhiêu học tṛ.
- Năm rồi được một trăm chín mươi. Khai trường năm nay tôi sợ số học tṛ lên tới hai trăm năm mươi. Lớp đồng ấu phải chia làm hai dạy mới được.
- Học tṛ đông quá...
- Mấy năm nay tôi ráng hết sức mới được vậy đó. Hồi tôi mới qua đây, là năm 1917, học tṛ có bốn mươi mấy. Bây giờ, số lên trên hai trăm, coi công phu của tôi là dường nào. Vậy mà quan Giám Đốc cũng không chịu xin mề đai cho tôi. Ủa! đă năm giờ mấy rồi, thôi về ăn cơm chớ. Bây giờ thầy đi đâu? Thôi, về nhà tôi ăn cơm rồi sẽ tính. Thầy nh́ cũng về thẳng nhà tôi ăn cơm nói chuyện chơi, thầy nh́.
Ông Đốc dẹp sổ sách, khóa tủ, đóng cửa, rồi dắt hết hai thầy gíao về nhà. Đi dọc đường, ông cười chúm chím mà nói rằng: "Ḿnh c̣n nghĩ có hai ngày nữa th́ ráp dạy đa. Trường ḿnh mới đủ lớp sơ học, ḿnh phải ráng, lớp nào cũng phải cần cho lắm mới được... Ư, mà tôi c̣n phải sắp đặt đặng sáng mốt cho hai đứa nhỏ đi nhập trường nữa".
Thầy giáo Nguyên nói rằng:
- Cô Ba nhập trường đây lên năm thứ ba chớ?
- Phải, năm nay nó lên năm thứ ba. Cha chả, mà tôi coi sức nó yếu lắm. Từ hôm băi trường tới nay tôi kiềm tôi dạy nó dữ quá. Có lẽ năm tới đây nó học không sút chúng bạn nữa.
- C̣n thằng Tư, tôi coi thế nó khá, chắc ông khỏi lo. Năm rồi nó được phần thưởng thứ nhứt về rédac tion với lecture, thứ nh́ về dictée.
Thầy Phát c̣n lạ, nên lóng tai mà nghe, không dám xen vô nói chi hết.
Về tới nhà, ông Đốc kêu vợ với con gái con trai nhỏ ra cho biết mặt thầy giáo mới. Ông tiếc rằng con trai lớn của ông, là ông Đốc học Lê Thiện Tánh, mắc về bên vợ ở Sa Đéc rồi khai trường đi dạy luôn, nên không có ở nhà mà làm quen với thầy giáo Phát. Ông hối vợ con mua đồ thêm đặng dọn cơm đăi hai thầy. Ông băi buôn vui vẻ, nói chuyện nghe thật t́nh lắm. Thầy giáo Phát mới xuất thân đi dạy, mà thấy tánh ư ông Đốc như vậy, th́ thầy mừng thầm.
Chừng ăn cơm, ông Đốc hỏi thầy Phát rằng:
- Thầy tính mướn phố dọn ở riêng, hay là tính kiếm nhà ở đâu.
- Thưa, ư tôi th́ tính mướn phố dọn ở riêng cho thong thả, ngặt v́ mới lại, đồ đạc không có, nên không biết làm sao. Để tôi cậy thầy nh́ đây chỉ giùm cho tôi nhà nào rộng răi và chủ nhà chịu nấu cơm tháng, đặng tôi xin ở đậu ít ngày rồi sẽ hay.
- Ờ phải, mới lại tới dọn nhà sao được. Nè thầy nh́, nhà thầy rộng răi, mà thầy có hai đứa con mà thôi, vậy cho thầy nhứt ở đậu đỡ được mà.
Thầy giáo Nguyên bị hỏi th́nh ĺnh không suy nghĩ kịp, nên thầy ú ớ và đáp xuôi xị rằng:
- Thưa, thầy nhứt muốn ở đậu nhà tôi cũng được. Nhà tôi th́ rộng, ngặt v́ nhà lá nên không được sạch sẽ, mà lại ở xa trường nữa. Đă vậy mà tôi lại có con nhỏ. Tôi e thầy ở đậu rồi cực ḷng cho thầy chớ.
- Được mà, tôi nhắm thầy ở đậu nhà thầy được. Thà anh em trong ty ḿnh đùm bọc với nhau, chớ để thầy đi ở đậu nhà người ngoài th́ coi sao được.
Thầy giáo Nguyên lặng thinh. Thầy giáo Phát hiểu ư thầy Nguyên đă chịu rồi, nên nói rằng: "Nếu thầy nh́ cho tôi ở đậu th́ may mắn cho tôi lắm. Nhà lá nếu thầy ở được th́ tôi ở được, đường đi dạy xa, nếu thầy đi được th́ tôi đi cũng được, có can chi mà ngại".
Bà Đốc học cũng tiếp vô mà khuyên thầy Nguyên cho thầy Phát ở đậu. Thầy Nguyên không thể chối được, nên phải chịu.
Xa xôi
21-04-2009, 02:23 PM
Ăn cơm rồi ông Đốc mời khách qua bộ ghế giữa ngồi uống nước. Ông ngồi xỉa răng, lặng thinh suy nghĩa một hồi rồi tằng hắng mà nói rằng: "Tôi nghĩ M. Phát đổi lại dạy trường này thiệt là may mắn lắm. Nhà trường may có được một thầy giáo giỏi đệ nhứt; mà thầy cũng may lại đây gặp anh em đồng nghiệp đều tử tế đúng đắn hết thảy. Thiệt mấy thầy giáo ở đây ai cũng biết lo bổn phận, ai cũng chơn chất thiệt thà, không sanh chuyện chi hết. C̣n Tổng, làng, dân sự ở chỗ này họ cũng biết đều lắm; tôi ở đây hơn mười năm rồi, chẳng có một người nào kiếm chuyện với tôi. Bọn chúng ta ở ty Giáo dục, cái thiên chức của chúng ta chỉ lo giáo hóa đoàn hậu tấn. Tuy bọn chúng ta chẳng có cái vinh được dân sự tôn trọng, chẳng có cái thế được làm giàu to, nhưng mà chúng ta có cái ân đức với xă hội, chúng ta có cái lạc thú rất thanh cao, chúng ta đă được thiên hạ kêu bằng "thầy" mà lại khỏi mang tiếng "nút máu" hay là "lột da" dân dại. Tôi xin lỗi trước với thầy nhứt, thầy ở nhà trường mới ra, mà thầy lại đậu hạng nhứt, tự nhiên thầy là một người có tài. Tôi không dám khoe tài giỏi hơn thầy, nhưng mà thầy có cái tài học thức, trong trí thầy chứa đầy sách vở, c̣n cái đường đời thầy mới vừa bước chưn vào kể từ bữa nay đây, nên việc ở đời chắc thầy chưa hiểu được. Tôi có tuổi tác, đáng bực anh của thầy, tôi lại có kinh nghiệm việc đời nhiều, vậy xin thầy cho phép tôi nói ít câu chuyện ở đời cho thầy nghe chơi..."
Thầy giáo Phát chận mà đáp rằng:
- Tôi ở nhà trường mới ra, thiệt việc đời tôi chưa hiểu chi hết. Đă vậy mà tôi mồ côi cha mẹ, nên bấy lâu nay tôi c̣n thiếu cái giáo dục gia đ́nh. Bực ông đáng cha mẹ tôi, nếu ông thương, ông dạy bảo việc đời giùm cho tôi, cái ơn ấy dầu ngàn năm tôi cũng chẳng dám quên.
- Té ra thầy mồ côi cha mẹ hết hay sao?
- Thưa, phải.
- Thầy có anh em được mấy người?
- Thưa, tôi có một ḿnh, không anh em chi hết.
- Tội nghiệp dữ hôn! Vậy mà thầy ăn học thành thân được đây thiệt là giỏi lắm đa.
- Thưa, tôi nhờ nương dựa với một anh nhà bác nên tôi mới học được.
- Ở đời khổ lắm thầy ơi, mà nhứt là người cô thế như thầy lại cần phải tập tánh dè dặt cho lắm mới được. Ḿnh chẳng nên tranh đua với người ta làm chi. Sách xưa có câu: "Nhu thắng cang, nhược thắng cường". Mỗi việc ǵ ḿnh dằn ḷng nhịn nhục cho được là hay hơn hết. Tôi thường thấy có nhiều thầy giáo, quan bổ vô dạy mấy trường nhỏ trong làng, mấy ổng ỷ có học thức nhiều hơn Hương chức rồi coi thiên hạ không ra ǵ hết. Hễ ḿnh khinh khi người th́ tự nhiên người ta cũng khinh khi ḿnh lại, thành ra có cái ác cảm, rồi sanh kiện thưa lung tung, người bị quở, kẻ bị đổi, mất sự yên ổn hết. Ḿnh làm thầy giáo, mà ḿnh nghịch với Hương chức, hoặc nghịch với cha mẹ học tṛ th́ có hại, chớ đâu có lợi. Thầy nghĩ đó mà coi, ḿnh không phải là thánh nên mỗi việc đều tận thiện tận mỹ được. C̣n người ta ở trong làng, người ta có vi kiến sẵn, người ta có bà con đông, nếu ḿnh sanh chuyện gây gỗ với người ta, rủi ḿnh đi dạy trễ hay là ḿnh thọ con gà hay thúng gạo chi của học tṛ, người ta phân chứng, người ta kiện rồi ḿnh chối căi sao được. Ấy vậy ở đời, phải lấy câu ḥa nhă mà đối với mọi người, th́ b́nh yên hơn. C̣n đối với quan bề trên, nên tuy tôi ăn lương trọng, mà hồi trước thằng Hai tôi đi học cũng có học bỗng luôn luôn, rồi tới bây giờ tới hai đứa sau c̣n đương học đó, cũng đều có học bỗng hết thảy. Vậy tôi khuyên thầy ở đời cứ giữ phận sự cho vuông tṛn, đối với tổng làng cùng cha mẹ học tṛ phải lấy câu ḥa nhă mà ở, c̣n đối với kẻ bề trên phải dằn ḷng nhịn nhục là hay hơn.
- Tôi cảm ơn ông dạy dỗ năy giờ. V́ ông thương tôi nên ông mới lấy thiệt t́nh mà khuyên bảo tôi như vậy đó. Tôi hứa tôi sẽ lo làm cho vừa ư ông đặng đền đáp cái thạnh t́nh của ông.
- Việc đời nói không hết được. Tôi tuổi tác đáng anh chị thầy, vậy thầy đừng ngại chi hết, nếu có việc ǵ uất trắc th́ cứ tỏ thiệt với tôi, tôi sẽ chỉ giùm cho.
Chủ khách đàm luận với nhau với gần chín giờ tối, rồi thầy Nguyên mời thầy Phát về nhà ḿnh mà nghỉ.
Xa xôi
21-04-2009, 02:26 PM
C̣n tiếp chương 2. Xin chờ thời gian nhé, khi nào rảnh tôi post thêm
Lăng Tử
21-04-2009, 02:33 PM
Ở Theo Thời
Phần Năm
Thầy nhứt Phát dám căi lịnh ông Đốc học, không chịu hạ ḿnh mà xin lỗi, lại c̣n dám chỉ cái chỗ quấy của thầy Cai tổng ra nữa, th́ đủ thấy thầy có liêm sỉ, có đởm lược, chớ không phải như bọn gan sứa miệng hùm. Nhưng mà lớp bị quan Chủ quận hăm, lớp bị ông Đốc học dọa, nên thầy có sắc buồn lo chút đỉnh.
Bữa sau, nhằm thứ bảy, ăn cơm tối rồi, thầy nhứt Phát ngồi coi sách. Khí trời nóng nực, ngọn đèn lu lờ bụng đă buồn, trí lại lo, mà c̣n gặp cái hoàn cảnh trời nực đèn lu nữa, nên thầy coi sách mà không hiểu chi hết. Thầy bèn dẹp sách rồi bước ra đường, đi qua đi lại mà hứng mát. Chơn bước thủng thẳng, trí nghĩ gần xa, thầy nhớ cái chuyện thầy Cai tổng khinh bỉ thầy, nhớ những lời quan Chủ quận quở trách, th́ thầy ấm ức trong ḷng. Thầy muốn kiếm người thân thiết mà bày tỏ tâm sự, hả hơi chút ít cho giảm bớt nỗi phiền, mà bây giờ biết tỏ với ai?
Những người làm việc nhà nước như mấy thầy giáo thầy kư, ông Phán dây thép, th́ ai cũng lợt lạt với thầy, nói cho họ nghe cũng không ích ǵ. C̣n Hương chức thảy đều là người phục sự của thầy Cai tổng nói cho họ nghe bao giờ họ nói ḿnh phải. Thầy tính viết thơ mà nói cho người anh ở Sài G̣n biết, rồi thầy nghĩ việc nhỏ mọn nói cho anh hay, sợ anh lo. C̣n nếu viết thơ cho thầy giáo Phùng ở Vĩnh Long, th́ lại e thầy không rơ căn nguyên rồi thầy trách ḿnh nóng nảy.
Thầy nhứt Phát đang suy tới xét lui, th́nh ĺnh thầy gặp thầy Hội đồng Bành Đại Lợi, mặc đồ mát, ở phía chợ đi về. Thầy Hội đồng thấy thầy giáo th́ đứng lại bắt tay chào rồi hỏi nho nhỏ rằng: "Tôi mới nghe nói ngày hôm qua thầy Cai tổng binh con, vô trường cự với thầy sao đó, rồi qua quận mà thưa làm cho quan Chủ quận kêu mà quở thầy, có vậy hay không?
Thầy nhứt gượng cười mà đáp rằng:
- Có. Ai nói với thầy mà thầy hay lẹ vậy?
- Ngoài chợ họ hay hết, ai cũng đồn rùm.
- Họ đồn làm sao? Họ cho tôi quấy hay là thầy Cai quấy?
- Có hai ba người nói chuyện với tôi hồi năy th́ ư họ cho thầy quấy. Họ nói thầy nhỏ mà không biết kiêng nể người lớn, nên mới sanh sự bị quở. Đời nầy thiên hạ khốn nạn lắm thầy ơi! Ở trên th́ cậy thân ỷ thế, ở dưới th́ dua bợ nịnh tà, họ kể tiền bạc, họ trọng oai quyền, chớ có ai biết chi là phải quấy. Họ thấy thầy c̣n nhỏ, nên họ coi thầy không ra ǵ, chớ có chi lạ... Ở ngoài đường ngoài sá nói chuyện cũng bất tiện. Vậy tôi mời thầy đi qua nhà tôi nói chuyện chơi. Đi mà, bữa nay thứ bảy mà ngại ǵ.
Thầy nhứt Phát dụ dự. Thầy Hội đồng Lợi bèn nói tiếp rằng: "Hồi thầy đổi lại đây tới bây giờ, thầy chưa tới nhà tôi lần nào. Qua chơi một lần cho biết nhà. Tôi ở bên đầu cầu sắt đây. Đi mà, qua bển rồi thuật rơ đầu đuôi chuyện của thầy cho tôi nghe thử coi."
Thầy nhứt Phát ấm ức, tính kiếm người thân thiết mà tỏ tâm sự. Thầy gặp thầy Hội đồng Lợi, tuy thầy không quen cho lắm, nhưng mà thấy người tỏ dấu niềm nở, lại nghe người tỏ lời ái truất, muốn biết rơ tâm sự của ḿnh, bởi vậy thầy không dụ dự nữa, theo thầy Hội đồng mà đi.
Thầy Hội đồng Bành Đại Lợi vốn là con cháu khách[1], năm nay thầy lối năm mươi tuổi. Qua cầu rồi, đi chừng vài trăm thước th́ tới nhà thầy. Thầy ở một cái nhà trệt ba căn hai chái, rộng lớn, cao ráo, nền đúc đá xanh, tường xây gạch thức, trước sân kiểng vật sum sê, ngoài ngơ rào sắt nghiêm chỉnh, có trâu ḅ mấy bầy, mà lại có ngựa cỡi đi coi ruộng nữa.
Bước vô nhà, thầy kêu con trai lớn tên là Hai Lộc chừng hai mươi lăm tuổi, mà biểu mở cửa giữa, đốt đèn măng sông. Thầy mời thầy giáo nhứt ngồi rồi nói rằng: "Thằng nầy là con trai lớn của tôi, nó có vợ, có con rồi. Tôi c̣n bốn đứa nữa: một đứa con gái gả lấy chồng về bên Bắc Trang, một thằng con trai học trên Sài G̣n, và hai đứa nhỏ, con gái mới bốn năm tuổi".
Cô Hội đồng ra chào thầy nhứt. Thầy Hội đồng dặn nho nhỏ, biểu làm gà nấu cháo ăn chơi.
Chừng đèn măng sông đốt sáng, thầy nhứt ngó trong nhà th́ thấy bàn ghế tài vật món nào cũng xứng đáng.
Có một người đàn ông sồn sồn, thân thể ốm teo, bưng nước trà ra đăi khách, rồi đi vào bộ ván dựa chái là chỗ có để một mâm á phiện, quẹt hột quẹt, đốt đèn lên. Thầy Hội đồng cười mà nói với thầy nhứt rằng: "Tôi có bịnh hút á phiện, mỗi ngày tôi hút tới ba bốn đồng. Vậy tôi xin mời thầy đi ngay lại mâm hút rồi anh em ḿnh nằm đàm đạo chơi".
Hai người dắt nhau lại mâm á phiện, trẻ ở trong nhà bưng trà theo. Thầy Hội đồng mời hết sức mà thầy nhứt không chịu nằm, thầy nói ngồi chơi cũng được. Người làm thuốc làm rồi điếu thuốc, thầy Hội đồng hỏi rằng: "Thầy muốn hút chơi hay không?" Thầy nhứt sợ cái bịnh ghiền lắm, bởi vậy thầy lắc đầu đưa tay mà nói lia lịa rằng: "Không! Tôi không dám đâu".
Thầy Hội đồng cười mà nói rằng: "Thiệt a, nếu không biết hút th́ chẳng nên tập làm chi. Cái bịnh nầy khốn nạn lắm. Có tiền chẳng nói ǵ, chừng ḿnh hết tiền, cái thân thiệt là đê tiện".
Thầy Hội đồng hút luôn một giọt đến năm sáu điếu coi bộ đă, rồi thầy mới ngồi dậy mà hỏi thầy nhứt về chuyện xảy ra ở trường học hôm qua và xin thầy nhứt thuật hết đầu đuôi cho ḿnh nghe thử.
Thầy nhứt ngồi thuật chuyện rơ ràng mọi điều cũng như thầy thuật lại với quan Chủ quận nghe bữa trước.
Thầy Hội đồng nghe rồi nói rằng: "Nếu vậy th́ thầy Cai có con hư, đă không biết trừng trị nó mà c̣n nghe lời nó rồi nói tầm bậy mích ḷng thầy. Thầy Cai lỗi, chớ thầy có lỗi ǵ mà ông Đốc ép thầy xin lỗi. C̣n thiên hạ họ vô duyên quá! Vậy mà họ đồn bậy bạ, họ nói thầy nhỏ mà không kiêng nể người lớn nên bị quở chớ! Ối! Cuộc đời vậy đó, thầy không hơi nào mà buồn. Thầy c̣n nhỏ, tôi khuyên thầy ráng dằn ḷng bền chí, bất luận là làm thế nào, cách nào miễn là được giàu, được sang, rồi dầu thầy làm ác họ cũng nói làm lành, dầu thầy làm làm quấy họ cũng nói làm phải, chớ bây giờ dầu thầy hay mấy họ cũng chê thầy dở, dầu thầy phải mấy họ cũng cho là quấy."
Thầy nhứt Phát nghe mấy câu trách đời ấy như khêu gợi ḷng uất ức của thầy, bởi vậy thầy thở dài rồi nói rằng: "Thầy nói tôi nghe thiệt phải lắm. Tôi đổi lại dạy học tại đây đă tám chín tháng rồi. Đối với mọi người, dầu lớn hay nhỏ cũng vậy, tôi giữ lễ luôn luôn, chẳng hề mích ḷng ai, mà chẳng hề nói động tới ai hết. Rất đổi là anh em bạn trong ty giáo huấn tôi c̣n cung kính người ta thay, có đâu tôi dám làm phách với người lớn. Về phận sự dạy học của tôi th́ tôi giữ tṛn, ông Đốc chẳng hề đút miệng trách chỗ nào được. C̣n về bề cư xử th́ tôi cũng giữ kỹ lưỡng, chẳng hề khi nào tôi gần chỗ hư, hay là chơi vô ích, hay là làm nhơ nhuốc. Tôi ở vậy đó mà thiên hạ họ ghét tôi mới kỳ... V́ năy giờ tôi thấy thầy có ư thương tôi, tôi nghe thầy nói lời công b́nh, vậy tôi mới dám tỏ hết công chuyện cho thầy nghe. Lúc tôi mới đổi lại, mấy thầy và Hương chức cứ theo rủ tôi đánh bài bạc. Tôi không biết đánh, tôi không chịu tập, nên tôi không thèm coi, họ rủ ren quyến dụ không được, rồi họ nói tôi làm phách. Ông Hương sư mời đám giỗ. Ăn rồi khách khứa bài bạc đủ thứ. Tôi không thích cuộc chơi như vậy, nếu tôi ở th́ tôi ngồi trơ trơ một ḿnh coi cũng kỳ, nên tôi bỏ ra về. Họ lại trách tôi là người bất cận nhơn t́nh. Tôi đến nhà thầy giáo Thủ tôi thăm, tôi không dè thầy có em vợ. Thẩy biểu em vợ ra chào tôi. Cách vài ngày người ta đồn rùm rằng tôi đi nói[2] em vợ thầy giáo Thủ. Tôi không có ư đó, nên tôi phải đính chánh cái tin huyễn hoặc ấy. Thầy giáo Thủ lại trở lại giận tôi. Hôm lễ sanh nhựt, anh em bày hùn tiền mướn ghe đi du hồ. Tôi sợ người ta nói tôi kiêu, nên tôi mới hùn tiền như thiên hạ. Chẳng dè ghe kiệu lui ra khỏi chợ một đỗi rồi ghé rước ba con điếm đem theo, trửng giỡn rầm rầm, coi tồi bại hết sức. Tôi không chịu xen vào cái cuộc chơi khiếm nhă như vậy, tôi ngồi dang ngoài xa, họ lại trách móc tôi làm bộ Tiên Phật, làm cho họ mất vui. C̣n về cái phận sự của tôi th́ tôi cần mẫn, mỗi việc đều ngay thẳng vuông tṛn, hôm qua thầy Cai lại mắng tôi, biểu con về, không cho học nữa, rồi lại thưa kiện tôi, nói tôi không kiêng nể người lớn. Thầy nghĩ đó coi có đáng buồn hay không? Tôi biết mấy tháng nay người ta không ưa tôi, tôi không đi chơi đâu hết, cứ ở nhà đọc sách. Thế t́nh khó quá, không biết làm sao cho vừa ḷng thiên hạ được!"
Thầy Hội đồng Lợi ngồi chăm chú mà nghe, chừng thầy nhứt nói dứt rồi, thầy mới nằm xuống hút một điếu, kéo ống nghe ro ro. Kéo hết điếu thuốc, thầy ngồi dậy phà khói và nói rằng: "Thầy không biết làm sao cho vừa ḷng thiên hạ? Thầy phải đánh bài bạc như họ, phải hút á phiện với họ, phải cướp giựt gian lận như họ, th́ tự nhiên họ ưa chớ có khó ǵ".
Thầy Hội đồng rót một chén nước tra mà uống rồi thầy chậm răi nói tiếp rằng: "Chẳng giấu ǵ thầy, tôi đây cũng vậy, hồi đó người ta ghét tôi lung lắm. Tôi dại quá, tại tôi muốn cho người ta thương, tôi làm theo người ta, tôi để cho họ lột da tôi, bây giờ tôi mới nguy như vầy. Thầy là anh em, mà ở đây cũng không có ai lạ, vậy để tôi thuật sơ việc nhà của tôi cho thầy nghe. Ông già tôi qua đời, có để lại cho tôi năm mươi mẫu ruộng. Vợ chồng tôi lam lụ làm ăn, cần kiệm hết sức. Nói cho phải, nhờ Trời Phật pḥ hộ, nên làm ăn càng ngày càng khá, cho vay đặt nợ chỗ nào họ cũng trả lời vốn đủ hết. Từ năm 1920 trở lại sau nhờ giá lúa cao, lại nhờ trúng mùa luôn luôn, nên tôi làm giàu ngay, chớ không phải khá mà thôi. Tôi cất nhà cất cửa lại, mua ruộng mua đất thêm, lần lần tại Tiểu Cần đây tôi đứng bộ tới một trăm năm mươi mẫu ruộng ngoại hạng, mà tôi lại có mua bên Phước Long được một sở năm trăm mẫu nữa. Mấy năm trúng mùa, tôi góp lúa từ hai mươi tám tới ba chục ngàn giạ, chớ phải ít hay sao. Họ thấy tôi tiền bạc lúa thóc nhiều, họ tới rủ ren nhiều việc kỳ cục lắm. Tôi nghĩ phận tôi là con cháu khách, phần th́ chữ quốc ngữ tôi biết cọt quẹt chớ không giỏi, quan trên thương cho làm chức Hương bộ mấy năm cũng vừa rồi, bởi vậy ai bàn việc ǵ tôi cũng không chịu, cứ thủ phận quê mùa làm ăn. Có người họ xúi tôi mua chức Ban biện, họ nói rằng có của cải mà không có chức phận th́ thiên hạ khinh khi. Tôi có nói khinh khi mặc ai, phận tôi quê dốt, tôi không dám đèo ḅng. Họ xúi giục không được, họ trở lại ghét tôi, cả làng không ai thèm lui tới nhà tôi nữa, cách họ làm dường như họ tẩy chay tôi vậy. Phận tôi không cần ǵ, cơm ḿnh ḿnh ăn, nhà ḿnh ḿnh ở, ai thương ghét mặc ai. Ngặt v́ vợ tôi cứ theo cằn nhằn, bả nói ở đời người ta sao ḿnh vậy coi mới được, chớ ḿnh ỷ có tiền rồi không giao thiệp với ai hết, th́ thiên hạ họ khi dể. Tôi thấy đờn bà muốn như vậy, tôi cũng ch́u ḷng. Nhơn dịp gả con gái tôi lấy chồng, tôi mới đặt một tiệc rất xứng đáng, mời hết Hương chức tân cựu và điền chủ, tôi lại chiều ḷn năn nỉ mời cho được quan Quận, thầy Cai và thầy Ban. Ba viên quan nầy chịu đi, th́ Hương chức và điền chủ ai cũng đi hết thảy. Nhờ cái tiệc đó giả lả, nên kết t́nh thân thiết với anh em trong làng lại được. Từ đó về sau họ mới tới lui, họ mới hết ghét tôi nữa và tôi mới bắt đầu thọ hại!"
Thầy Hội đồng nằm xuống hút hai ba điếu nữa. Thầy nhứt Phát đương bị người ta ghét mà nghe thầy Hội đồng Lợi nói thẩy hồi trước cũng bị như ḿnh, sau thẩy làm cho người ta thương mới bị hại, th́ lấy làm lạ, nên ngồi trông thẩy nói tiếp coi chuyện ra thể nào.
Thầy Hội đồng ngồi dậy, vén bắp vế mà găi, rồi cười mà nói: "Bây giờ tôi mới biết ở đời sự thương hay là ghét của thiên hạ không nghĩa lư ǵ. Thầy nghĩ đó mà coi, họ ưa tôi, họ báo tôi không biết bao nhiêu. Thầy biết chú Hương thân cầm cái tiệm ở trước nhà việc hay không? Ớ, cái chú đó lếu lắm. Chú làm thông tin cho nhựt tŕnh, nhựt báo ǵ đó không biết, mà chú cứ qua nhà xúi tôi mua một năm. Tôi nghĩ một vài chục đồng bạc cũng không bao nhiêu, nên tôi vị t́nh mua giùm cho chú. Chú ăn quen tới lui chơi hoài, khi th́ xin tiền gởi cầm giúp cho ai bị băo lụt ở đâu không biết, khi th́ chú dắt khách ở đâu lạ hoắc tới nhà rủ hùn lập tiệm lập hăng, hoặc in sách in vở ǵ đó, khi th́ chú đem nhựt tŕnh đến đọc cho tôi nghe mấy cái bài người ta khen ngợi tôi, nói nhà tôi giàu mà ham làm việc công ích, biết thương người đồng chưởng[3], biết bồi đắp quê hương. Thiệt tôi có biết công ích, tôi có biết đồng chưởng, tôi có biết quê hương là giống ǵ đâu, mà sao nhựt tŕnh họ khen bướng như vậy không hiểu. Mà đờn bà của tôi nghe thế bả chịu lắm, lại chú Hương thân Cầm cái văn nói của chú thiệt là hay, nên khi th́ tôi đưa vài ba chục mà giúp, khi th́ tôi đưa đôi ba trăm mà hùn, những tiền tốn hao như vậy đó mỗi năm tính cũng có tới năm bảy trăm chớ có ít đâu. Mà sự tốn hao đó cũng chưa bao nhiêu. Có cái trận nầy tôi mới tốn thiệt nặng. Để tôi nói cho thầy nghe coi phải họ thấy tôi có tiền họ bày chuyện mà xẻ tôi hay không. Một bữa nọ, thầy Cai tổng viết giấy sai tùng giả đem mà mời tôi. Tôi lật đật đi hầu. Thầy Cai mới nói rằng trong tổng sẽ mở cuộc tuyển cử Hội đồng địa hạt, nghe lại th́ có một ḿnh Hương chủ Thống ở làng Hiếu Tử ra tranh cử mà thôi. Vả thầy dọ ư cử tri các làng th́ phần đông không chịu bỏ thăm cho Hương chủ Thống, họ nói thằng cha đó gắt gao độc ác, không đáng mặt đại biểu của dân, và họ ước ao cho tôi ra tranh cử th́ họ bỏ thăm cho tôi hết thảy, v́ họ biết tôi tuy giàu có mà sẵn có ḷng lo công ích. Thầy Cai khuyên tôi phải ra mặt đặng cho vừa ḷng Hương chức các làng, thầy làm đầu giúp đỡ mọi việc hết thảy, không có sao đâu mà ái ngại. Tôi tỏ thiệt với thầy Cai rằng tôi quê mùa dốt nát, không xứng đáng làm chức Hội đồng, nên tôi xin thầy chọn người khác. Thầy làm mặt giận, tôi sợ quá nên tôi xin với thầy để tôi về bàn tính việc nhà rồi tôi sẽ trả lời. Thầy ừ mà lại dặn tôi về biểu đờn bà của tôi qua hầu thẩy đặng thầy dạy việc. Tôi về nói chuyện lại cho vợ con hay. Đờn bà của tôi rầy quá, bả nói thầy Cai thẩy thương thẩy muốn giúp tôi, sao tôi không chịu, làm bỉ mặt thẩy đây thẩy giận đố khỏi mang khốn. Bả liền che dù qua hầu thầy Cai. Thầy Cai nói với bả sao đó không biết, mà bả về bả cự với tôi, bả nói thầy Cai rầy quá nên bả chịu rồi, vậy phải lo ra tranh chức Hội đồng, đừng có từ chối ǵ hết. Bả lại nói thầy Cai hứa làm đơn và xin giấy tờ giùm cho, thầy cũng kiếm người trong mỗi làng đặng nói giùm với cử tri cho nữa. Thiệt quả, chiều có Biện tổng đem đơn xin ra mặt qua mà biểu kư tên và nói sáng bữa sau sẽ đi Trà Vinh mà xin sao lục án Ṭa giùm. Cách vài ngày các Hương chức tới nhà tôi rần rần. Lớp th́ lo đăi đằng, lớp th́ chịu tiền xe, tốn hao hung quá. Gần tới ngày tuyển cử, họ nói Hương chủ Thống quyết ăn thua, nên ra tiền mua thăm hung quá, mỗi lá thăm giám mua tới hai chục, hăm lăm đồng. Vợ chồng tôi bàn tính với nhau, Hương chủ Thống không phải giàu hơn ḿnh mà nó giám làm như vậy, lẽ nào ḿnh lại nhịn thua nó. Tôi cũng phải mua thăm. Bữa cử, tôi hơn Hương chủ Thống được mười hai lá thăm, tôi đắc cử. Cha chả! Mà tốn hao nặng quá. Về đăi đằng, về mua thăm, về đền ơn nghĩa chỗ nầy, chỗ kia, cọng hết thảy non tám ngàn đồng!"
Thầy Hội đồng nói tới đó rồi thầy lắc đầu cười và hỏi thầy nhứt rằng:
- Thầy coi có phải tôi dại hay không?
- Có dại ǵ đâu, muốn có chức phận với người ta th́ phải tốn tiền chớ sao. Đời nầy ai cũng phải vậy.
- Làm Hội đồng địa hạt mỗi năm đi hội có vài lần, chớ có quyền hành ǵ đâu mà tốn hao lung quá.
- Phải. Trong cuộc tuyển cử mà bày mua bán thăm là một điều không tốt. Mà lại tranh giành với nhau, tự nhiên sanh cái tệ ấy, biết làm sao. Thôi có tốn hao chút đỉnh thầy mới được ăn trên ngồi trước, chớ ông Hương chủ ǵ đó ổng cũng hao tiền, mà ổng thất cử đó sao.
- Thầy đừng có nói chuyện ăn trên ngồi trước! Nói tới tôi c̣n buồn nữa. Tại cái ăn trên ngồi trước đó tôi mới nguy. Rồi cuộc tuyển cử, họ bày cho tôi đăi tiệc mà tạ ơn cử tri . Nhơn cái dịp đó, Hương chức các làng ai cũng khoe có công giúp tôi hết thảy, ai cũng xưng là anh em thiết của tôi. Đăi tiệc tốn hao chẳng nói ǵ. Ngặt v́ từ đó về sau anh em quen biết đông quá, đầu nầy mời đám giỗ, đầu nọ mời đám cưới, đi riết rồi bày chơi bời bài bạc, hùn lập ngành thầu hốt me, nhiều người mượn bạc tiền không chịu trả, có người lại cậy đứng giấy bảo lănh nợ giùm nữa. Chẳng giấu chi, mấy năm nay đất tôi bên Phước Long bị thất mùa luôn luôn, phần lúa không có giá, nên tôi mắc nợ bộn mà không trả nổi. Trong số nợ đó, gần phân nửa là số tôi bảo lănh cho người ta.
- Nợ lănh là nợ của ḿnh. Thầy bảo lănh chi vậy?
- Th́ thấy anh em năn nỉ quá, biết làm sao. Họ cần dùng tiền, họ tới năn nỉ ḿnh bảo lănh giùm cho họ vậy. Ḿnh thấy họ có nhà có đất chắc chắn, thế nào họ cũng trả nổi, có sao đâu mà sợ. Ai dè có người th́ bị thiếu nợ nhiều chỗ khác nữa, điền đất đă cầm cố cho chủ nợ trước rồi, nợ trả không nổi, chủ nợ trước th́ hành phát măi lấy hết đi. C̣n có người vay rồi, lại lén bán đất mà trốn đi mất. Ḿnh bảo lănh, đỗ đục về ḿnh phải chịu, chớ biết làm sao. Tôi nghĩ lại thiệt tôi dại lắm. Tại tôi muốn cho họ thương, nên tôi mới mang nợ mang nần, chớ nếu tôi giữ chức Hương bộ cựu, không cầu ai khen, dầu ai thương, ai ghét thây kệ, th́ tôi sung sướng lắm. Mà thầy biết mấy năm nay tôi mắc nợ, trong nhà bẩn chật, rồi thiên hạ ở với tôi làm sao không? Họ coi tôi không ra ǵ hết. Đó, như bên Hương sư Lầu đám giỗ họ có mời tôi đâu.
- Không có mời thầy hay sao?
- Không. Họ biết hai năm nay tôi thua nhiều, c̣n tiền bạc ǵ mà mời. Thầy thấy nhơn t́nh như vậy hay không? Thiên hạ xấu lắm thầy ơi! Ai cũng là "thằng điếm" hết thảy, bất luận là họ nói tiếng chi, hay họ làm việc chi, họ đều tính cho có lợi hết thảy. Tôi đă có kinh nghiệm rồi, nên tôi chỉ giùm cho thầy tránh. Thầy chẳng nên tin ai. Họ ghét thầy là v́ họ lột da thầy không được nên họ mới ghét. Họ thương thầy là v́ họ có lợi nên họ mới thương. Ấy vậy ở đời nầy ḿnh cần lo giữ cái túi của ḿnh trước hết đă, rồi sau sẽ nói chuyện thương ghét.
- Tôi mới bước chơn vào đường đời mấy tháng nay, mà tôi thấy nhiều việc tôi chán ngán rồi. Nay tôi nghe lời thầy nói chuyện nhơn t́nh nhiều chỗ đê tiện nữa th́ tôi càng thêm buồn. Vậy th́ cái nền luân lư của nước tôi đă suy sụp rồi c̣n ǵ!
Hai người đàm luận tới đó, kế con thầy Hội đồng lại mời đi ăn cháo. Hai người đồng một bịnh uất về thế t́nh nên coi bộ tâm đầu ư hiệp lắm.
Ăn cháo gà rồi, thầy nhứt Phát từ mà về. Thầy Hội đồng Lợi biểu bạn[4] xách đèn lồng đưa thầy giáo và khi ra cửa, thầy đặn nói rằng: "Thầy có buồn, tối qua bên nầy đàm đạo chơi nghe hôn thầy nhứt. Tôi với thầy coi bộ hiệp ư với nhau lắm..."
[1] người Hoa ở Việt Nam
[2] cầu hôn
[3] đồng chủng
[4] người giúp việc trong nhà
Lăng Tử
21-04-2009, 02:33 PM
Tiếp chương II
Ở THeo Thời!
Đến bữa khai trương thầy giáo Hà Tấn Phát được giáp mặt với các bạn đồng nghiệp. Ông Đốc học tiến dẫn thầy đặng làm quen với mọi người, rồi ông định chia lớp mà dạy:
“Thầy Phát lănh dạy lớp nhứt. Thầy Nguyên lănh lớp nh́ (năm thứ hai) như cũ. Thầy Hạp lănh lớp nh́ (năm thứ nhứt) như cũ. Ông Đốc bổn thân lănh dạy lớp ba đặng kiềm cho học tṛ cuối năm thi bằng tiểu học đậu cho nhiều. Thầy Sanh lănh lớp tư như cũ. Thầy Thủ với thầy Hậu, hai thầy lănh dạy hai lớp chót.”
Mấy thầy vâng lời, ai đi lănh lớp nấy, không ai dám kêu nài chi hết.Thầy Phát lănh lớp nhứt có ba mươi hai tṛ, vừa cho thầy dạy. Thầy ở trường sư phạm xuất thân, mà kỳ thi ra trường thầy lại đậu thứ nhứt nữa, bởi vậy khi thầy nói khiêm nhượng với ông Đốc, song bắt đầu dạy, thầy chẳng bợ ngợ chút nào hết.
V́ thầy Phát mới đổi lại, nên chừng tan học, ông Đốc dắt thầy lại quận mà tŕnh diện với quan địa phương cho đủ lễ. Quan Chủ quận đương ngồi tại pḥng văn, trong có lính hầu, ngoài có lính gác, coi bộ nghiêm nghị lắm. Thầy Phát bước vô, có ư sụt sè. Quan Chủ quận coi bộ th́ oai nghiêm, mà ngài th́ tiếp chào rất vui vẻ. Ngài mời ngồi, hỏi thăm thầy xứ sở ở đâu, có vợ con hay chưa, ra trường được mấy năm, rồi lấy lời ḥa nhă mà khuyên thầy hăy cần lo dạy dỗ trẻ em, đặng cuối năm có số học tṛ thi đậu cho đông, trước rỡ ràng danh giá của nhà trường, sau khỏi phụ cái công của ngài với ông Đốc hiệp nhau mà xin lập cho đủ lớp sơ học.
Chừng ra về, ông Đốc mới nói nhỏ với thầy Phát rằng: "Đối với ty giáo huấn th́ quan lớn tử tế lắm. Nhưng mà ngài làm việc gắt hẳn ḥi, bởi vậy chẳng nên lôi thôi".
Thầy giáo Nguyên ở một cái nhà lá ba căn, gần đầu cầu sắt Tiểu Cần, nhà trở cửa xuống mé rạch. Trong nhà chỉ có vợ thầy với hai đứa con, một đứa bảy tuổi, năm nay mới vô học lớp chót, và một đứa mới dứt sữa, vừa biết đi lẫm đẫm. Tôi tớ th́ chỉ có một bà già đi chợ nấu ăn, và một đứa con trai chừng mười ba mười bốn tuổi tên thằng Lục, lănh bồng em đi chơi.
Cô giáo Nguyên đen đúa, không chịu trang điểm, song cô băi buôi vui vẻ, hay nói, hay cười, ưa làm cho vừa ư chồng, hay vui mà tiếp đăi khách.
Thầy Phát mới làm quen, mà thấy thầy Nguyên thiệt t́nh, cô giáo Nguyên tử tế, nên thầy không sợ ké né cho lắm.
Chiều bữa khai trường đó, thầy Phát mới cậy thầy Nguyên dắt đi thăm hết mấy thầy giáo cùng Hương chức ở trong châu thành.
Trước hết lại nhà thầy nh́ Hạp. Thầy nầy ở một căn phố nhỏ. Thầy có vợ mà vợ thầy ở bên Trà Vinh, thầy ở nhà có một ḿnh ăn cơm quán nơi nhà cha mẹ của một đứa học tṛ ở gần đó. Nhà thầy dọn sơ sài lắm, chỉ có một cái giường, một cái bàn với vài cái ghế mà thôi. Trên bàn th́ sách vở để lộn với tách uống nước, nón, vớ. Khi thầy Hạp thấy hai ông bạn đồng nghiệp bước vô, thầy lật đật lấy áo bận, mời khách ngồi rồi nói rằng: "Nhà tôi lôi thôi lắm. Băi trường tôi khóa cửa mà về Trà Vinh. Tôi mới trở qua hồi hôm nên chưa dọn dẹp chi hết".
Kế đó lại nhà thầy Tư Sanh. Thầy nầy ở một cái nhà ngói cũ ba căn. Thầy trạc chừng bốn mươi tuổi, có tám đứa con. Khi bước vô nhà th́ con nít chộn rộn đầy nhà, đứa ở trần, đứa ở truồng. Thầy Sanh nói con đem b́nh trà ra, rồi thầy rót hai tách nước mà mời khách... Thầy nói rằng: "Tôi bị con đông quá, hễ đi dạy về th́ nó đeo, không đi chơi bời ǵ được hết". Thầy Nguyên chúm chím cười mà nói rằng:
- Tối tối tôi thấy thầy xách ba ton[1] đi miệt dưới chùa Thổ hoài! Thầy khéo dấu th́ thôi.
- Đâu có.
- Ờ không có. Để bữa nào tôi bắt cho thầy coi mà.
Thầy Thủ cất nhà theo đường qua Rạch Lọp cách châu thành hơn hai ngàn thước, nên đi thăm không tiện. Thầy ở đó mà làm ruộng, mỗi bữa đạp xe máy ra trường mà dạy học. Thầy đă gần năm mươi tuổi rồi, nên lo làm ăn lắm; nhưng mà lo làm ăn là lo cho vợ thầy làm, chớ thầy hay ra chợ thường, ai rủ bài bạc thứ ǵ thầy cũng không từ, ai bày chơi cách nào thầy cũng có mặt.
C̣n thầy Hậu th́ c̣n trẻ, mới hai mươi mốt tuổi. Thầy ở một căn phố. Trong nhà có một cô mỹ nữ, tối ngày ai cũng thấy đầu gỡ láng nhuốt, mặt dồi phấn trắng toát. Thầy kêu người ấy bằng "ḿnh" nói vơí ai thầy cũng xưng hô là "ma femme" nhưng mà lối xóm thảy đều nói là "mèo" của thầy, chớ không phải vợ. Khi thầy Phát và thầy Nguyên bước vô, th́ không có thầy Hậu ở nhà. Cô mỹ nữ ấy ra chào và mời ngồi, rồi hỏi thăm thầy Phát việc nầy việc kia một cách dạn dĩ lắm.
Luôn dịp thầy Nguyên dắt thầy Phát ghé thăm ông Phán Liêu, chủ sự sở dây thép, thầy Kư Huy giúp việc cho quận, thầy ban biện Nghiệp và mấy vị Hương chức ở chung quanh chợ, đi đến bảy giờ mới về ăn cơm.
Khai trường mới mấy bữa th́ đă tới thứ bảy. Chiều bữa ấy, thầy Phát với thầy Nguyên về tới nhà th́ thấy cơm đă dọn sẵn rồi. Khi ngồi lại ăn cơm th́ cô giáo Nguyên nói rằng: "Thầy nhứt mới đổi lại, chưa quen với ai, chắc là thầy buồn. Để tôi cho bầy trẻ đi mời mấy thầy lại đánh bài đặng thầy đánh chơi cho vui".
Thầy Phát liền đáp rằng:
- Thưa, tôi có biết đánh bài đâu.
- Hứ! Bài tứ sắc mà sao lại không biết. Vậy chớ thầy biết đánh thứ ǵ?
- Thưa cô, từ nhỏ tới lớn tôi không biết đánh thứ ǵ hết.
- Trời ôi! Thầy nói sao nghe quê mùa quá vậy? Thầy không biết đánh tứ sắc, sa hỏ, cẩu hấu, tam hường hay là thiên cửu ǵ hết sao?
- Thưa cô, việc bài bạc tôi xin chịu dốt ngay. Thuở nay họ đánh tôi không chịu coi nữa, chẳng luận là tôi đánh.
- Ở đời phải theo đời, người ta làm sao ḿnh phải làm như vậy mới vui chớ. Hồi nhỏ thầy mắc lo ăn học nên chẳng nói làm chi, bây giờ thầy đă có chức phận với người ta rồi, nay mai đây đầu nầy có mời đám giỗ, đầu nọ mời đám cưới. Nếu tới đám tiệc mà thầy không chịu chơi một thứ ǵ hết, th́ anh em người ta cười chớ.
- Thưa, ai cười tôi chịu, chớ thiệt tôi không biết bài bạc mà tôi lại không ưa nữa.
Thầy Nguyên thấy thầy Phát căi lẽ với vợ thầy, thầy bèn chen vô mà nói rằng:
- Thầy nhứt không ưa bài bạc là phải lắm. Trong sách nho có câu: "Đổ bác môn trung học khứ thân, năng sử anh hùng vi hạ tiện". Mà tôi tưởng người ta nói đổ bác đó là như đánh me, đánh phé, đánh bài cào ḱa. Chớ c̣n ḿnh chơi thứ tứ sắc, thiên cửu, tam hường là chơi cho vui có hại ǵ đâu.
Thầy Phát cười mà đáp rằng:
- Vui mà cũng thua tiền, chớ phải vui mà không tốn hao hay sao?
- Anh em chơi nho nhỏ với nhau, ăn thua bao nhiêu mà sợ. Vợ chồng tui thuở nay ưa đánh tứ sắc lắm, thứ năm, chúa nhựt nào cũng chơi, mà có hại ǵ đâu. Ḿnh đánh có ṣng thua mà cũng có ṣng ăn, chớ không lẽ mỗi ṣng đều thua hết.
- Theo tôi tưởng ở đời tự nhiên phải chơi. Mà chơi chẳng thiếu cách, ḿnh phải lựa cách chơi nào cho thanh cao mà chơi mới phải. Hoặc thừa lúc rảnh tụ hội anh em mà bàn luận việc phải quấy; hoặc làm việc nhọc thân mệt trí, ḿnh đi ra ngoài đồng trống đứng ngó mông đặng hấp thanh khí, dưỡng tinh thần, hoặc tập thể thao luyện cho gân dẻo xương cứng đặng khỏi bạc nhược hoặc kiếm sách hay mà đọc đặng cho rộng thêm chỗ nghe thấy của ḿnh. Chơi như vậy đă khỏi tốn tiền mà lại có ích lắm. Chớ c̣n chơi bài bạc, đă không bổ cho trí năo, mà lại c̣n mệt mỏi cho thân thể ḿnh nữa.
- Thầy nói theo sách quá! Hồi tôi mới ra trường tôi luận việc đời, tôi cũng nói như thầy vậy đó. Nội một năm th́ tôi tỉnh ngộ, tôi tính tôi đi sái đường. Để một ít lâu đây, rồi thầy sẽ thấy phong hoá ở trường khác, c̣n phong hoá ở đời khác, nếu ḿnh lấy cái phong hoá ở trường mà cư xử với đời, th́ việc ḿnh làm không thích hiệp với ai hết.
- Có lư nào mà kỳ vậy; phong hoá là phong hoá, luận lư là luận lư, dầu ở đâu, dầu đời nào, cũng vậy hoài, có thế nào mà dời đổi được.
- Ừ, th́ để rồi coi mà. Có nhiều việc trong sách vở người ta cho là tồi phong bại tục, người ta ố lắm, nhưng mà ở thế gian thiên hạ họ làm thường hoài, có ai cười chê, có ai cho là làm bậy đâu.
- Nếu ḿnh làm việc chi sái phong hoá, dầu người ta không chê cười trước mặt ḿnh, mà trong trí người ta cũng khinh bỉ ḿnh chớ.
- Ối! Ai cũng vậy hết, có ai mà khinh bỉ ai.
- Thầy nói, tôi xin lỗi thầy, thiệt tôi làm thinh không được. Ở đời có kẻ quấy người phải, có kẻ dại người khôn, chớ có lư nào ngu xuẩn hết thảy, đến nỗi ai làm trái luân lư không biết giận, ai làm trúng phong hoá không biết khen; nếu lời thầy nói đó mà quả thiệt như vậy, th́ té ra xứ ḿnh dă man rồi c̣n ǵ! Tôi xin kêu nài việc đó, tôi kêu nài hẵn ḥi.
- Tại văn minh quá rồi nó ra như vậy đó a thầy, chớ không phải dă man đâu. Thôi, mà việc đời hơi đâu mà căi. Người ta làm sao, ḿnh cũng làm vậy cho xong.
Thầy Nguyên nói dứt lời liền bỏ đi xuống nhà sau. Thầy Phát uống nước rồi ra lộ đi hóng mát.
Trời tối lần lần, mấy nhà ở dựa lộ đều lo đốt đèn. Thầy Phát chấp tay sau đít, thủng thẳng trở về nhà. Khi thầy bước vô cửa th́ thầy thấy thầy nh́ Hạp với thầy Kư Huy đương ngồi nói chuyện với chủ nhà. Thầy chào hỏi rồi cũng ngồi đó mà chơi.
Thầy Kư Huy rủ thầy Phát đánh bài tứ sắc, thầy Nguyên rước mà trả lời rằng: "Thầy nhứt nói thầy không biết đánh. Chớ chi thầy biết đánh, th́ bốn anh em ḿnh chơi với nhau tiện quá. Tôi có cho đi mời anh Hương hào Phúc rồi. Chờ một chút ảnh lại".
Cô giáo Nguyên trải chiếu, đốt đèn, và bỏ sẵn một bộ bài trên ván. Cách chẳng bao lâu thiệt quả Hương hào Phúc lại tới, rồi đồng với chủ nhà, thầy Kư Huy, thầy nh́ Hạp leo lên ván ráp đánh tứ sắc.
Thầy Phát bơ vơ, thầy bèn lại bàn viết đốt đèn lên, tính viết mấy câu tục ngữ có ảnh hưởng về phong hoá để dán trong lớp học cho học tṛ ngó thấy hằng ngày đặng nhớ mà tập tánh sửa ḿnh. Thầy đương ngồi suy nghĩ, th́nh ĺnh thầy Kư Huy kêu mà nói rằng:
- Không đánh th́ lại đây coi, thầy nhứt. Coi có thua khiếm ǵ đâu mà sợ, thầy.
- Cám ơn, tôi mắc làm việc.
- Tối thứ bảy th́ chơi, chớ làm việc ǵ.
- Tôi cũng chơi đây chớ.
- Chơi giống ǵ ngồi bàn viết mà chơi. Thầy chưa biết đánh th́ lại đây tôi dạy cho. Tôi không biết dạy học tṛ, chớ dạy tứ sắc th́ tôi nghề lắm. Tôi dạy thầy hai ṣng, th́ thầy đánh rành như chơi.
- Cám ơn thầy, học thứ ǵ, chớ học đánh bài, thiệt tôi không dám.
- Đánh bài vui lắm đa thầy. Ông Đốc học, bà Đốc học cũng đánh luôn luôn đó sao. Tôi chắc bây giờ đây trên nhà ông Đốc cũng có một ṣng bài ở trển. Ai lên đó mà không có tôi chịu thua.
Cô giáo Nguyên ngồi dựa một bên chồng mà coi bài, cô chận mà nói rằng: "Trên ông Đốc th́ tự nhiên có một ṣng rồi, mà ở trển đánh tới hai cắc hoặc một cắc chớ phải đánh năm xu như ḿnh hay sao; ở xứ nầy ai cũng đánh bài hết, duy có một ḿnh thầy nhứt thẩy khác hơn người ta".
Thầy giáo Phát không trả lời. Thầy cứ ngồi gạch giấy mà viết chữ lớn, viết theo điệu chữ in, những câu nầy:
"Hoạnh tài bất phú"
"Tiền tài như phấn thổ"
"Nhơn nghĩa thắng thiên kim"
"Đổ bác môn trung mạc khứ thân"
"Nghèo cho sạch rách cho thơm"
"Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn"
"Một câu nhịn chín câu lành"
Thầy viết mấy câu đó rồi thầy nghĩ họ đánh bài cười giỡn om ṣm, nếu ḿnh đi ngủ, chắc ngủ không được; thầy bèn lấy giấy viết một bức thơ cho người anh nhà bác là Hà Tấn Tài, ở Sài G̣n. Thầy viết như vầy:
"Kính anh chị.
Em kính gởi lời thưa cho anh Hai chị Hai hay rằng em xuống Trà Vinh tŕnh diện với quan giám đốc Học chánh, ngài bổ em qua Tiểu Cần mà dạy, ông Đốc học trường sơ học Tiểu Cần cắt cho em dạy lớp nhứt.
Em đă khởi dạy từ hôm khai trường đến nay. Em ở đậu tại nhà một thầy giáo cũng dạy học một trường với em.
Em chậm viết thơ cho anh chị là v́ mới khai trường, em phải lo sắp đặt nhiều việc, phần em mới đổi lại, bề ăn ở chưa yên. Vậy em xin anh chị tha cái lỗi bê trễ của em đó.
Ngày nay em được thành thân, được no cơm ấm áo, khỏi phải trôi sông lạc chợ như con nhà mồ côi khác. Ấy là nhờ anh chị lấy ḷng từ thiện cứu vớt em trong lúc em chơi vơi một ḿnh ngoài biển cả. Cái ơn tế độ của anh chị, đă làm cho em no ấm, mà c̣n lại giúp cho em học thành thân nữa, ơn ấy em ghi tạc trong trí, dẫu ngàn năm em cũng không quên đặng. Em tự quyết nếu kiếp nầy mà em không đền ơn đáp nghĩa cho anh chị đặng, th́ em cũng nguyền kiếp sau làm thân trâu ngựa mà đền bồi.
Hôm nay em ĺa anh chị, em thầm nghĩ cái công anh chị làm nên cho em đây, em phải hết ḷng trọng cái công ấy mà giữ ǵn cái thân danh của em. Em hứa chắc chắn với anh chị rằng kể từ ngày nay, là ngày em bước chơn vào đường đời, cho tới ngày em nhắm mắt từ biệt dương trần, em sẽ cứ ngó một đường chơn chánh mà đi hoài, em thề chẳng làm một việc ǵ hổ với lương tâm, em chẳng chơi thứ ǵ mà phạm đến danh dự. Em quyết trau tánh dồi ḷng để đặng khỏi phụ cái công ơn của anh chị làm nên cho em.
Giấy vắn mà chuyện c̣n dài. Em xin viết sơ mấy hàng làm tin, và em chúc cho anh chị b́nh an, cầu cho cháu nhỏ mau lớn.
HÀ TẤN PHÁT
Cẩn kư"
Thầy Phát viết bức thơ cho anh xong rồi, thầy ngồi suy nghĩ, nhớ chuyện cũ việc xưa, thầy bèn lấy giấy viết thêm một bức thơ nữa mà gởi cho ông Lư Kỳ Phùng là thầy giáo dạy lớp nhứt trường tỉnh Vĩnh Long, cách năm năm trước có công dạy dỗ thầy học thi đậu vào trường sư phạm.
Thơ như vầy:
"Kính thầy.
Em lấy làm vui mừng mà báo tin cho thầy hay rằng quan trên đă cấp bằng cho em làm giáo sư, và bổ em xuống dạy trường sơ học Tiểu Cần.
Em đă bắt đầu dạy học kể từ ngày khai trường. Ông Đốc học Tiểu Cần lại cắt phần em dạy lớp nhứt. Em được thành thân và mới tựu chức, em liền được trọng dụng, thiệt em vinh hạnh không biết chừng nào. Nhưng mà cái vai của em có lộn cái lo, em lo là v́ em mang cái lốt giáo sư vào ḿnh, em mới thấy rơ bực sư phạm có cái trách nhiệm nặng nề to tác. Em nghĩ ḿnh làm một thầy giáo dạy học, chẳng những ḿnh lo mở mang học thức, trau giồi trí năo cho trẻ em mà thôi, mà ḿnh c̣n phải sửa tánh t́nh, un đúc đức hạnh cho trẻ em nữa mới được. Giáo th́ phải dục; nếu ḿnh chuyên dạy cho trẻ em học cho giỏi, c̣n lễ nghĩa không cần chỉ bảo, dường ấy sợ e ngày sau trẻ em khôn lớn làm ông nầy ông kia, mà không biết làm người, thành ra cái mà ḿnh dạy đây là cái họa to cho xă hội.
Em nghĩ như vậy, cho nên em ngần ngại hết sức. Tài học và đức hạnh của em có xứng với chức giáo sư của em chăng?
Em lại đây mấy ngày rày, em ḍm thấy ông Đốc học có ư thương em, c̣n các bạn đồng nghiệp có ư trọng em, ai cũng khuyên em về giáo dục, ai cũng dạy em về cách cư xử, nhưng mà dầu lời khuyên nào cũng chẳng bằng những lời thầy dạy dỗ chỉ bảo cho em ngày xưa. Những lời quư báu của thầy vẫn vẳng vẳng bên tai em hoài. Em nguyện em sẽ dùng những lời chơn thành, những lẽ chánh trực của thầy dạy em ngày xưa mà đem dạy cho trẻ em bây giờ, đặng ngày sau trẻ em thành nhơn, có đủ lễ nghĩa, ngơ hầu khỏi gây tai họa cho xă hội. Em chắc thầy sẽ vui ḷng mà được thấy em kế trí thầy.
Em chúc thầy cùng quư quyến được b́nh an và luôn dịp em xin tỏ lời cảm tạ thầy một lần nữa, về cái công ơn thầy dạy dỗ em, nên ngày nay em mới có học thức, biết lễ nghĩa chút đỉnh.
HÀ TẤN PHÁT Cẩn kư"
Thầy Phát viết bài thơ xong rồi thầy tắt đèn đi ngủ, mấy thầy kêu hết sức mà thầy không chịu lại coi.
Thầy Phát mới dạy trong vài tuần lễ, mà cái lớp học của thầy đâu đó đều đúng đắn, ông Đốc học không thế đút miệng vô chê chỗ nào được. Dưới gạch th́ sạch trơn, không có bụi cát, không có giấy xé bỏ bậy. Trên vách th́ treo đủ đồ khí cụ để dạy học, lại có treo những tấm bảng có biên mấy câu phương ngôn ngạn ngữ về phong hoá để cho học tṛ coi mỗi bữa để mà sửa ḿnh. Sách vở để có thứ tự, bài học thầy ra thảy đều đúng phép, hễ tới giờ học th́ trong lớp lặng trang, học tṛ ngồi chỉnh tề, chẳng có một tṛ nào dám cười giỡn hay là dám chạy bậy, coi ra có vẻ nghiêm nghị lạ lùng.
Hễ thầy có dịp nói chuyện với ông Đốc học th́ thầy dùng những lời cung kỉnh, đứng hay ngồi thầy đều giữ lễ luôn luôn. C̣n đối với mấy thầy giáo khác th́ thầy giữ cái thái độ mềm mỏng, song chẳng dua bợ, lại chẳng kiêu căng, mà cũng chẳng lơ lẳng.
Ban đêm và ngày nghỉ th́ thầy lo kiếm bài mà dạy học, hoặc lo sửa bài cho học tṛ làm. Hễ có rảnh th́ thầy lo đọc sách, đọc hoài không biết nhàm. Mỗi bữa, ăn cơm chiều rồi, thường thầy đi chơi chừng một giờ đồng hồ, mà đi chơi thầy không chịu ghé nhà ai, cứ đi lên đi xuống trên lộ mà hứng gió mát. Có người hỏi thầy vậy chớ đi chơi sao thầy không ghé nhà mấy thầy giáo, hoặc nhà Hương chức, mà lại cứ thơ thẩn một ḿnh ngoài lộ hoài. Thầy trả lời rằng: "Tôi làm việc mệt trí mỏi mỏi xác, tối cần phải đi một hồi đặng giải cái mệt mơi đó. Nếu tôi ghé nhà anh em ngồi mà nói chuyện, th́ tôi càng thêm mệt mơi nữa. Huống chi mỗi người hễ tối rồi th́ cần phải nghỉ ngơi, hoặc mắc lo tính việc nhà. Nếu không có chuyện cần ích mà ḿnh tới làm khách cho người ta, th́ sợ e phải làm nhọc trí hoặc cực ḷng người ta nữa".
Thầy lo làm phận sự th́ đúng đắn, thầy giữ bề cư xử th́ hẳn ḥi, bởi vậy trong một tháng đầu không nghe ai dám chê thầy, nhưng mà cũng không nghe ai khen thầy một tiếng nào hết, chỉ có nghe một hai người xầm x́ rằng: "Thầy giáo mới tuổi c̣n nhỏ mà bộ nghiêm dữ!"
___________
[1] (bâton), gậy
Lăng Tử
21-04-2009, 02:34 PM
Ở Theo Thời
Phần Ba
Một buổi chiều, ăn cơm rồi, thầy Phát cũng đi hứng mát mà bữa nay thầy lại đi theo con đường Rạch Lọp. Bữa ấy nhằm mười bốn An nam, nên mặt trời lặn rồi, th́ mặt trăng đă mọc lên tỏ rạng.
Thầy Phát ra khỏi châu thành đứng ngó mông. Cả đồng lúa đương nở, một màu xanh lặc ĺa, lại gió thổi ngọn phất phơi dường như dợn sóng. Trên trời mặt trăng soi sáng, làm cho cảnh thêm vui, thêm mát vô cùng. Thầy Phát đứng ngó một hồi, trong ḷng thầy thơ thới, rồi lại cảm xúc, nhớ những việc đă qua, lo nhưng chuyện sẽ tới, buồn tấm thâm côi cút, mừng chút phận ấm no. Thầy đương bàng hoàng th́nh ĺnh có một người cỡi xe trong chợ đi ra, ngó thấy thầy th́ liền nhảy xuống mà hỏi rằng: "Thầy làm giống ǵ mà đứng đó vậy thầy nhứt?"
Thầy Phát bước tới nh́n kỹ th́ ra là thầy giáo Thủ, dạy lớp chót. Hai người chào mừng nhau rồi thầy Phát hỏi rằng:
- Thầy đi đâu đây?
- Tôi về nhà tôi.
- Nhà thầy ở gần hay xa? Tôi nghe nói thầy ở ngoài nầy mà chưa biết chỗ nào.
- Nhà tôi ở phía trước kia, c̣n chừng bốn năm trăm nữa mới tới. Đó, chỗ cái đèn ḿnh ngó thấy đó.
- Xa dữ há.
- Có xa ǵ đâu. Thường thường tôi đi xe máy chừng mười lăm phút.
- Tan học từ hồi chiều, mà tới bây giờ mới về hay sao?
- Tôi mắc ghé trong chợ chơi. Mời thầy đi thẳng ra nhà tôi chơi cho biết nhà.
- Xa quá, sợ về khuya lắm.
- Trời có trăng, mà sợ giống ǵ. Thầy không dám về th́ tôi đưa về. Tôi về ăn cơm rồi c̣n trở vô chợ nữa.
Thầy Phát thầm nghĩ từ ngày ḿnh lại Tiểu Cần ḿnh chưa đi thăm thầy Thủ. Vậy ḿnh cũng nên thừa dịp nầy mà đi thăm cho đủ lễ. Thầy chịu đi, rồi hai người thủng thẳng và đi và nói chuyện chơi.
Thầy giáo Thủ ở một cái nhà lá ba căn xông[1] đầu trên, phía mặt trời lặn, lại có cất một cái nhà cũng lợp lá song rộng lớn, một khúc để chứa lúa c̣n một lúc để nấu ăn. Trước nhà có một cái sân. Cái sân ấy chạy ra sát mí lộ v́ chủ nhà muốn phân biệt nên có trồng một hàng cây bông bụp để làm hàng rào, lại có làm cửa ngơ, tối khép lại, đặng cho kẻ đi đường khỏi trà trộn vào sân.
Thầy giáo Thủ dắt khách về tới nhà, khi bước vô sân, th́ có một cặp chó ở trong nhà chạy tuôn ra sủa om ṣm. Thầy nạt một tiếng, cặp chó nín sủa, rồi lại ngoắt đuôi mừng. Bỗng nghe trong nhà có tiếng đờn bà nói rằng: "Dữ hôn! Tan học hồi bốn giờ rưỡi, mà bảy tám giờ mới về tới nhà. Quàn[2] măm cơm nguội lạnh hết, ăn giống ǵ được".
Thầy Phát nghe tiếng nói, thầy ngó vô nhà thiệt quả thấy một người đờn bà đương nằm trên ván mà chơi với con nhỏ chừng vài tuổi, dựa bên có có để một cây đèn sáng hoắc.
Thầy Thủ dựng xe máy ngoài cửa và kêu vợ và nói rằng: "Ḿnh a, có thầy giáo nhứt ra thăm đây. Biểu bầy trẻ nấu nước uống". Người đàn bà ấy lồm cồm ngồi dậy th́ hai thầy bước vô nhà. Thím giáo tay bồng con, tay bưng đèn đem bỏ trên bàn, rồi ngó thầy Phát và cúi đầu chào rằng: "Hổm nay thầy bầy trẻ nói có một thầy mới đổi lại c̣n nhỏ mà giỏi lắm, ông Đốc cắt dạy lớp nhứt. Té ra thầy đây há?"
Thầy Phát cúi đầu đáp lễ và cười và nói rằng: "Thưa phải; phải là tôi mới đổi lại, và ông Đốc cắt tôi dạy lớp nhứt. C̣n cái câu thím nói tôi giỏi đó, th́ tôi không dám lănh, bởi v́ tôi tưởng có may lắm là tôi bằng mấy thầy giáo khác, chớ có ǵ đâu mà gọi rằng giỏi".
Thầy Thủ mời khách ngồi và cũng cười mà nói rằng: "Thầy khéo khiêm nhượng th́ thôi! Nội trường nầy không phải thầy giỏi hơn hết hay sao? Ai cũng biết hết..."
Thím giáo tiếp mà nói rằng: "hổm nay trong chợ người ta đồn rùm, ai lại không biết. Thầy c̣n nhỏ, mà học giỏi; thiệt là quư quá!" Thiếm lại day vô buồng, kêu mà nói rằng: "Ba à, mở tủ lấy gói thuốc đem ra đây em. Gói thuốc Job qua để ngăn trên đó".
Thầy Phát được khen rồi, thầy lấy làm ái ngại, nên ngồi bợ ngợ không biết chuyện ǵ mà nói. Thầy giáo Thủ lăng xăng, vặn đèn lên cho sáng, rồi quét bụi đóng trên bàn. C̣n thím giáo bồng con vô buồng. Bỗng nghe trong buồng có tiếng nói chuyện rầm ŕ, rồi lại nghe tiếng chuông leng keng mở tủ. Cách một lát có một cô gái trạc từng mười tám, mười chín tuổi, mặc một cái áo lụa trắng c̣n mới tinh, ở trong buồng bước ra, cúi đầu chào thầy Phát, để gói thuốc Job trước mặt rồi quày quả trở vô. Thím giáo đi theo sau cô ấy thím liền nói rằng: "Con nầy là con em tôi đó đa, thầy nhứt". Thầy Phát gặc đầu và chúm chím cười, chớ không biết lời chi mà đáp. Thầy ngồi một hồi rồi cáo từ mà về. Vợ chồng thầy Thủ ân cần cầm ở lại đặng làm vịt dọn cơm ăn. Thầy Phát nói rằng thầy đă ăn cơm rồi, không thể ăn nữa được. Thầy Thủ liệu thế khó mời ăn uống; thầy bèn nói rằng: "Thôi, như thầy ăn cơm rồi, th́ thầy cũng ngồi chơi, đợi tôi ăn ba hột rồi tôi đưa thầy về; tôi c̣n trở vô chợ có chuyện riêng".
Thầy Phát nghe như vậy thầy mới chịu ở lại chơi mà chờ. Thầy Thủ cáo lỗi xuống nhà sau dùng cơm. Thầy Phát ngồi ở nhà trên một ḿnh buồn, thầy bèn lấy một cuốn sách mở ra coi. Th́nh ĺnh cô gái hồi năy đó xách b́nh trà lên, đứng rót một tách mời thầy uống. Thầy chỉ nói có hai tiếng "cám ơn" rồi cứ coi sách. Thầy Thủ ăn cơm rồi, hai người đề huề dắt nhau trở vô chợ.
Chuyện thầy Phát đến nhà thăm thầy Thủ chỉ có bao nhiêu đó mà thôi, nhưng mà qua ngày sau, đến giờ chơi buổi chiều, thầy nh́ Hạp lại vỗ vai thầy Phát mà hỏi rằng: "Nghe nói hồi hôm đon đi coi em vợ của M. Thủ, vậy mà đon bằng ḷng hay không?"
Thầy Phát chưng hửng, nghe thầy Hạp mà nói rằng:
- Hồi hôm nhân dịp đi chơi tiện đường, tôi đi theo M. Thủ ra thẳng ngoài nhà thẩy mà thăm chơi cho biết nhà, chớ tôi có coi ai bao giờ. Sao thầy dám bày chuyện như vậy? Ai nói với thầy rằng tôi đi coi vợ?
- Từ sớm mơi tới giờ cả chợ, ai cũng nói như vậy, chớ phải tôi bày chuyện đâu.
- Họ đồn bậy, thầy tin làm chi.
- Mà hồi hôm đon có ra nhà M. Thủ hay không?
- Có. Tôi đi thăm thầy.
- Có tích người ta mới dịch ra tuồng được. Đon có đi, đon c̣n chối giống ǵ.
- Đi thăm anh em nghĩa là đi coi vợ hay sao?
- Mà em vợ M.Thủ có ra chào đon hay không?
- Có. Rồi sao?
- Có sao đâu. Bởi tại như vậy nên người ta mới nói đon coi vợ.
- Chuyện kỳ quá! Tôi đi thăm M. Thủ, chớ chẳng có ư ǵ khác. Ai có đồn bậy, xin thầy cắt nghĩa lại cho họ hiểu và khuyên họ đừng có đồn huyễn mà phạm danh giá con gái người ta.
Thầy Phát đi chơi, lại đi chơi phải nghĩa, mà thầy mang tiếng, bởi vậy thầy lấy làm bất b́nh, hết muốn tới nhà ai nữa.
Cách ít ngày, thầy Phát đương dạy học, lại tiếp được một cái thiệp của Hương sư Lầu mời đám giỗ. Đến giờ chơi, thầy hỏi thăm, th́ mới hay từ ông Đốc cho đến mấy thầy ai cũng có thiệp mời hết thảy. Thầy nói rằng thầy chưa quen với Hương sư Lầu nhiều, nên thầy tỏ ư muốn viết thơ mà từ. Ông Đốc nghe bèn nói rằng: "Thầy nhứt đừng có làm như vậy mà mích ḷng người ta. Ở trong làng nầy, ông Hương sư Lầu tử tế lắm, tuy ổng không có điền sản lớn nhưng mà ổng có quyền thế mạnh, tổng quận đều yêu ổng hết thảy. Nhà ổng có kỵ cơm, ổng trọng ty giáo huấn lắm, nên ổng mới mời đủ hết. Nếu thầy từ, dầu mà thầy không có ư khinh khi ổng đi nữa, sợ e ổng cũng nghi rồi ổng phiền. Vậy thầy phải vị t́nh ổng mà chớ đừng có từ."
Thầy Phát vưng lời, nên đến bữa đám giỗ thầy đi theo thầy Nguyên mà lại nhà Hương sư Lầu. Khi bước vô th́ thầy thấy trong nhà khách khứa đông dày dày lại có một ṣng bài thiên cửu đánh tại bàn và một ṣng bài tứ sắc đánh trên ván. Chừng đỏ đèn thầy Cai tổng với quan Chủ quận lại mà mấy người đánh bài cũng cử tiếp chơi như thường, coi bộ không kiêng nể chi hết. Mấy thầy giáo, thầy kư, thầy dây thép[3] cũng áp theo hai ṣng bài ấy, người coi tứ sắc kẻ coi thiên cửu.
Chừng nhập tiệc, th́ ông chủ nhà chỉ lo ân cần đăi cái bàn giữa, chỗ có quan Quận với thầy Cai, thầy Ban ngồi, c̣n mấy bàn kia th́ phận ai nấy lo, chen nhau mà ngồi không ai ngó ngàng tới. Tiệc rồi khách lại ráp đánh bài nữa. Có người rủ thầy Phát chơi, thầy từ mà nói rằng thầy không biết đánh thứ ǵ hết, th́ coi bộ họ chưng hửng, không tin có thứ người không biết bài bạc.
Quan Quận c̣n ngồi đó mà khách đă xầm x́ trải chiếu sửa soạn hốt me. Có người lại đem chuyện đỗ bác đấu kê ra mà nói tự do, không kiêng nể chi hết. Người th́ thuật cái Mỏ Cày hồi hôm hốt tại Ô Chát ăn hai mươi ba ngàn; kẻ th́ nói bữa trước ông chủ nào đó đá một độ gà chín ngàn rưỡi.
Đến mười giờ khuya, quan Quận mới từ chủ nhà mà về. Thầy Phát nhân dịp ấy rủ thầy Nguyên về. Thầy Nguyên kề miệng nói nhỏ, biểu ở nán coi họ đánh me chơi. Thiệt quả một lát th́ họ đánh me rần rần, khách chẳng ngồi ṣng nầy th́ đeo theo ṣng khác, chẳng có ai ngồi không, ông Đốc học cùng thầy Cai thầy Ban cũng đánh tứ sắc.
Thầy Phát không vui, bèn bỏ thầy Nguyên ra về một ḿnh. Ra đường thầy nghĩ thầm rằng: đám tiệc là vậy đó? Người ta trọng ḿnh người ta mời là vậy đó! Ḿnh v́ t́nh người ta mà đi dự tiệc là vậy đó! Giả dối! Giả dối lắm!
Lật bật đă tới lễ sinh nhựt (Chúa giáng sinh, Red.),các trường học đều được nghỉ tám ngày. Thầy Phát tiếp được thơ của anh là Hà Tấn Tài, cho hay rằng nhơn lễ ấy anh xin phép dắt vợ con lên Đà Lạt ở chơi qua tết Tây rồi mới về. Thầy tính lễ về thăm anh, mà được tin như vậy, nên nghỉ lâu mà thầy không về.
Mấy thầy và ít vị Hương chức c̣n trẻ tuổi rủ nhau hùn tiền mướn một chiếc ghe lớn, mua đồ ăn và rượu trà bỏ theo nghe, thả ra Mặc Bắc, đợi mười hai giờ khuya coi nhà thờ làm lễ kiệu ảnh, rồi ăn uống đờn địch chơi tới sáng sẽ trở về. Mấy thầy giáo đều có hùn tiền đặng dự cuộc chơi nầy. Thầy Phát đă có dự một tiệc hôm nọ tại nhà Hương sư Lầu, thấy lấy làm chán ngán, nên do dự không muốn hùn, mà bị anh em ép quá, cực chẳng đă phải ch́u ḷng mà kư tên.
Ăn cơm chiều rồi, ai nấy đều xuống ghe, cộng mấy thầy và hương chức và thương gia hết thảy chừng mười lăm người. Đồ ăn và rượu trà đem theo đựng đầy hai thùng, lại có một bọn đờn tài tử, năm sáu anh vác đờn kèn theo nữa. Ghe vừa lui khỏi bến th́ Hương hào Phúc kêu người chèo lái mà dặn rằng: "Nè, ra tới nhà bà Hai Tồn anh ghé ghe lại đặng rước người ta thêm nữa, nghe hôn. Nhớ a anh, quên ắt anh bị đ̣n, nói trước cho mà biết".
Mấy anh đờn mỗi người cầm một cây đờn mà lên dây rồi ḥa với nhau. Hướng đông trăng khởi mọc, trong rạch nước minh mông, ngọn gió bấc hiu hiu, tiếng đờn ḥa rỉ rả; trông trăng nh́n nước, hứng gió, nghe đờn, người có máu phong lưu ai cũng bàn hoàn với cảnh. Nhưng mà cả thuyền, trừ thầy giáo Phát ngồi lặng thinh thưởng cảnh nghe đờn, c̣n bao nhiêu th́ nói nói cười cười lấy sự trửng giỡn làm vui, chớ không phải lấy cảnh đất trời mà làm thích.
Một lát ghe ghé lại một cái bến, Hương hào Phúc nhảy lên bờ, rồi vô một cái nhà lá nhỏ. Cách chẳng bao lâu anh trở ra, sau lưng lại có ba cô mỹ nữ đi theo, một cô mặc áo trắng, một cô mặc áo tím, một cô mặc áo đen, cô nào cũng dồi phấn thoa son sắc lẻm. Khách dưới ghe có nhiều người vỗ tay chào mừng. Mấy cô theo Hương hào mà xuống ghe rồi th́ ghe lui.
Một cô mỹ nữ ngả ngớn với mấy thầy, cô th́ ngồi trong ḷng người nầy, cô th́ dựa bắp vế người kia, khi th́ cô nầy ca ngâm, lúc th́ cô nọ hút thuốc, rơ ràng một trận lả lơi không có lễ nghĩa, không có ngôi thứ chi hết. Kẻ đờn người hát, đầu nầy giỡn, đầu kia cười, thầy Phát ngồi ngẩn ngơ, thuở nay chưa từng nghe những tiếng thô tục, chưa từng thấy cái cảnh bất nhă dường ấy, nên thầy hổ thẹn không biết chừng nào.
Ban đầu, mỗi người đều mắc lo chơi phận ḿnh, nên không để ư đến người khác. Cách một hồi lâu, thầy Kư Huy ḍm thấy thầy nhứt Phát ngồi ngoài xa, không can thiệp đến cuộc ngả ngớn của mấy cô mỹ nữ, th́ thầy kêu mà nói rằng: "Thầy nhứt, vô đây mà! Mắc cỡ cái ǵ. Làm trai phải cứng cỏi, chớ sao ngồi chim bỉm như con gái giàu vậy? Vô đây".
Thầy Phát khoác tay lắc đầu, không chịu vô. Thầy Kư Huy bèn kêu cô áo tím mà nói rằng: "Cô Hai, cô ra mời thầy giáo nhứt[4] vô đây chơi chớ. Thẩy giận cô không chào thẩy, nên năy giờ ở ngoài đó đa. Cô phải ra xin lỗi rồi mời thầy vô".
Cô áo tím ngó thầy Phát mà cười, rồi ḅ ra ngoài, ngồi dựa bên thầy, tay choàng qua cổ thầy, mặt kề gần mặt thầy, thủng thẳng nói rằng: "Ḿnh giận tôi hay sao: Thôi, hun một cái cho hết giận".
Thầy Phát mắc cỡ quá, không kiếm được một lời chi mà đáp, chỉ day mặt chỗ khác và gỡ tay cô nọ. Ai nấy cười rộ, làm cho thầy càng mắc cỡ hơn nữa. Thầy dây thép bèn nói rằng: "Cô phải hun thầy mà xin lỗi, chớ sao cô lại biểu thầy hun cô". Cô nọ nghe lời bèn ôm đầu thầy nhứt mà hun nghe một cái chụt. Cả ghe đều vỗ tay; Thầy Phát mắc cỡ quá nên xô cô nọ một cái rất mạnh, làm cho cô té nằm trên ḿnh thầy nh́ Hạp.
Thầy Kư Huy thấy bộ thầy Phát giận th́ nói rằng:
- Thầy nhứt, cuộc nầy là cuộc ḿnh bày ra đặng vui chơi. Anh em ai cũng vui hết thảy, sao thầy không vui mà h́nh như thầy giận vậy?
- Thầy thích chơi như vầy tự nhiên thầy vui. Tội không thích, tôi vui sao được.
- Thầy nói lạ quá! Người ta thường nói: "Nhứt chơi tiên, nh́ giởn tiền". Chơi tiên là vui đệ nhứt, sao thầy lại không thích, đâu thầy cắt nghĩa cho tôi nghe thử coi?
- Tại ư tôi không thích, có chi đâu mà khắc nghĩa.
- Tôi không hiểu được. Thầy không thích sao thầy lại đi?
- Anh em rủ quá, nên tôi vị t́nh mà đi. Tôi nói thiệt, hồi tôi đi không dè chơi như vầy, chớ phải tôi biết trước th́ tôi không đi.
- Bộ thầy sửa soạn cưới vợ hay sao, mà thầy sợ mang tiếng?
- Không. Việc cưới vợ tôi chưa tính.
- Vậy chớ sao thầy làm như không chịu chơi cái ǵ hết? Thầy nhứt nè, thầy là anh em nên tôi phải tỏ thiệt cho thầy rơ. Ở đời người ta làm sao ḿnh phải làm theo vậy, mới thuận cảnh, coi mới vui, chớ ḿnh làm khác người ta th́ khó coi lắm, mà lại trái nhơn t́nh. Thầy xét lại đó mà coi, đời nầy không phải là đời đạo đức, hay là đời nhơn nghĩa ǵ đâu. Đời nầy là đời danh lợi, là đời kim tiền, từ lớn chí nhỏ, từ sang chí hèn, thảy đều tranh đua với nhau mà làm cho có tiền, không kể cách làm đó hiệp nhơn nghĩa hay là không hiệp. Hễ có tiền rồi lo mua cái danh, không cần xét cái danh ấy trong hay là đục. Bọn ḿnh đây sanh nhằm cái đời như vậy, th́ ḿnh phải cư xử theo người đời ấy, chớ ḿnh tập theo tánh t́nh người đời khác th́ thành ra ḿnh trái đời, ḿnh có chơi với ai được. Thầy không hay, chớ thầy đổi lại mấy tháng nầy mà họ dị nghị thầy nhiều lắm. Nếu thầy không tin, thầy hỏi hết thảy anh em đây coi có phải vậy hay không.
- Tôi có nói động tới ai, tôi có làm mích ḷng ai đâu mà họ dị nghị.
- Phải. Thầy không nói động tới ai, thầy không làm mích ḷng ai, nhưng mà thầy cư xử theo người đời xưa quá, thiên hạ họ coi không hạp con mắt họ, nên họ đồn thầy "nghiêm", họ nói thầy là "người ở trên mây rớt xuống".
- Tôi xét việc nào phải th́ tôi làm, việc nào không phải th́ tôi tránh. Ai muốn đồn thế nào tuỳ ư họ; những lời khen chê của thiên hạ không làm tôi nóng hay là lạnh được.
- V́ tôi thương thầy lắm, nên tôi phải nói cạn lời. Ở đời thầy nói vậy sao được. Thầy không cần thiên hạ, ví như thiên hạ họ cũng không cần thầy tẩy chay thầy rồi th́ thầy chơi với ai? Thầy nói theo sách quá như vậy không được đâu. Cái luân lư trong sách khác, cái luân lư ở đời khác. Ở đời ḿnh phải theo thời. Tối thứ bảy anh em thường hay tụ hội đánh bài chơi. Thầy không chịu đánh, anh em không vui rồi. Bữa đám giỗ nhà Hương sư, thầy trốn về trước không chịu chơi với người ta, cái đó người ta cũng không vui nữa. Đến bữa nay đây, là bữa chúng ta hiệp nhau mà bày cuộc đặng chơi với nhau mà thầy cũng dang dở, tôi chắc hết thảy anh em dưới ghe đây chẳng có ai mà chẳng
Ba cô mỹ nữ vỗ tay mà nói lớn rằng: "Thầy kư đít-cua[5] hay quá!". Mấy thầy năy giờ nín khe mà nghe thầy kư giảng dụ thầy nhứt về cách ở đời, thấy bộ thầy nhứt quạu, lại cũng không chắc bên nào phải, bên nào quấy, nên không dám xen vô mà căi lẽ. Đến chừng nghe ba cô mỹ nữ vỗ tay th́ phần nhiều lại bắt chước vỗ tay theo, không hiểu ư họ cầu vui, hay là họ cho cái lư thuyết của thầy kư là chánh đáng.
Thầy nhứt Phát đă bất b́nh cái cuộc chơi lả lơi, mà đến chừng nghe vỗ tay thầy chắc cả thuyền đều hiệp ư mà cho những lời khuyên vô đạo của thầy Kư Huy là phải, c̣n cho cái cử chỉ chánh trực của thầy là quấy nên thầy càng thêm tức giận, muốn biểu ghé ghe lại đặng thầy nhảy lên ruộng kiếm đường mà về. Nhưng thầy nghĩ lại, nếu làm như nậy th́ khiếm nhă quá. Thầy giả lả gượng cười mà nói rằng: "Thầy kư lớn tuổi hơn tôi, thầy lịch duyệt đường đời hơn tôi, nên thầy chỉ bảo giùm cho tôi, thiệt tôi cảm t́nh thầy lắm. Nhưng mà tôi xin lỗi thầy, cho tôi căi lại ít lời. Luân lư là luân lư, dầu ở đời nào, dầu ở nước nào cũng vậy, không có thế dời đổi được. Theo lời thầy nói hồi năy, th́ cái đời lễ nghĩa, cái đời đạo đức đă qua mất lâu rồi, cái đời hiện thời là cái đời danh lợi, là đời kim tiền. Mà thầy không có chê cái đời đă qua đó là đời quấy, không khen cái đời hiện tại đây là đời phải, thế th́ tôi chắc thầy cũng công nhận đời đạo đức là... tốt, c̣n đời danh lợi là xấu. Nếu thầy biết đời nầy không tốt, mà sao thầy c̣n dám xướng lên mà khuyên tôi phải tập tánh t́nh cư xử theo đời nầy? Có lẽ thầy cũng rơ biết, con người, dầu ở đời nào cũng vậy, hễ tới lúc đủ trí khôn th́ sự phải với sự quấy chàng ràng trước mặt, chẳng khác nào người đi đường đi tới ngả ba, trong trí bối rối không biết phải đi ngả nào. Sự giáo dục là một phương chước đặt ra để chỉ đường phải cho thiên hạ đi, để chỉ nẻo quấy cho thiên hạ tránh. Anh em chúng ta đây là bọn có giáo dục ít nhiều, rủi chúng ta sanh nhằm đời danh lợi, thiên hạ đều kéo nhau đi vào đường quấy, bổn phận chúng ta phải lo kéo họ lại mà chỉ đường cho họ đi. Sao thầy lại lập cái thuyết xúi thiên hạ sanh đời danh lợi đi vào đường quấy hết thảy. Rơ ràng cái thuyết của thầy không chánh đáng, không thể làm cho tôi cảm phục được".
Thầy Kư Huy cười x̣a mà đáp rằng: "Dưới bóng trăng thanh, kề vai mỹ nữ, mà thầy dạy anh em học luân lư th́ không hiệp thời. Thôi để bữa nào chúng ta rảnh rồi chúng ta sẽ b́nh luận việc đó lại. Bây giờ để cho chơi vui, kẻo mất ngày giờ." Thầy nói dứt lời, liền ôm cô áo đen mà nựng.
Cuộc lẳng lơ tiếp theo nữa, ra cho tới Mặc Bắc, rồi bận trở về cũng vậy. Thầy nhứt Phát vẫn ngồi ngoài xa, song không ai dám xui chọc ghẹo đến thầy nữa.
[1] ba căn 1 chái
[2] giữ lại, để lại
[3] Nhân viên bưu điện phụ trách điện tín
[4] Thầy Phát dạy lớp nhứt
[5] tiếng Pháp “discours”, thuyết minh
Lăng Tử
21-04-2009, 02:35 PM
Ở Theo Thời
Phần Bốn
Mấy lời của thầy Kư Huy nói bữa đi chơi ghe đó tuy không làm cho thầy nhứt Phát phục được, song làm cho thầy phải suy nghĩ rất nhiều. Trong mấy ngày sau hễ có giờ rảnh th́ thầy nhứt Phát nhớ tới những ǵ người ta trách ḿnh, không chịu bắt chước anh em mà đánh bài chơi, đi ăn giỗ, thấy người ta đánh bạc mà len lén bỏ về, không chịu hiệp ư với anh em mà say sưa trong đường hoa nguyệt. Thầy suy đi xét lại kỹ lưỡng, th́ trong ba điều người ta trách thầy đó thầy chẳng có quấy điều nào hết; người ta chơi bậy thầy không chịu bắt chước, người ta trở lại ghét, chẳng khác nào kẻ gian giảo ghét người thẳng ngay, kẻ hung ác ghét người lương thiện chớ chẳng có chi lạ.
Thầy để ư coi chừng, th́ thấy từ mấy thầy cho đến Hương chức mỗi ngày họ càng thêm lợt lạt với thầy, gặp nhau th́ chào sơ sài cho đủ lễ rồi đi, chớ không nói chuyện, không rủ ren chơi bời nữa. V́ thầy đoán quyết thầy không có lỗi, nên dầu nhơn t́nh đối đăi với thầy như vậy mà thầy cứ nhắm đường ngay bước tới, chẳng có chút chi buồn. Có một người làm cho thầy phiền nhiều là thím giáo Nguyên, chủ nhà thầy ở đậu đó. Nhà thím mỗi tuần đều có chứa bài tứ sắc hai ba đêm, c̣n ban ngày, nhằm giờ thầy dạy học ở nhà thím chứa hay là đánh th́ không kể. Hồi thầy mới lại ở đậu th́ thấy bộ thím vui vẻ, mà từ ngày thầy không chịu học đánh bài th́ cách vui vẻ ấy thủng thẳng giảm bớt lần lần rồi lại hoá ra khinh thị.
Một đêm thứ bảy, thầy nhứt Phát đương ngồi sửa bài vở của học tṛ. Có vài người khách tựu lại đánh bài, họ vui miệng rủ thầy nhứt đánh. Thím giáo Nguyên liền nói rằng: "Thẩy tu mà rủ ren cái ǵ! Thẩy thấy ḿnh đánh bài thẩy ghét lắm. Thẩy nói với người ta thẩy đương kiếm nhà ở riêng, chớ ở đậu nhà tôi là nhà bài bạc, ở lâu rồi nhiễm cái hư không tốt".
Thầy nhứt Phát nghe rơ ràng, thầy muốn trả lời, nhưng thầy nghĩ lại biết ư thím giáo Nguyên muốn đuổi thầy, bởi vậy thầy giả điếc làm lơ, cứ sửa bài, không nói chi hết.
Cách vài ngày sau, thầy mướn một căn phố, mua giường ghế ít món cần nhứt, rồi dọn nhà ở riêng một ḿnh, mướn một người trai nấu ăn.
Băi trường Tết, mấy thầy giáo được nghỉ một tháng. Thầy nhứt Phát tính giao nhà cho thằng nấu ăn coi đặng thầy về Sài G̣n mà thăm anh, chẳng dè đến ngày băi trường, ông Đốc học lại kêu thầy mà nói rằng con út của ông là Lê Thiện Chí, học tại Mỹ Tho năm nay coi bộ thiếu sức, học không bằng chúng bạn trong lớp, vậy nên ông cậy thầy nhơn dịp băi trường nầy, hễ ăn tết rồi, th́ thầy kềm dạy riêng giùm Thiện Chí ít tuần lễ, đặng chừng khai trường khỏi thua sút chúng bạn nữa, công thầy dạy đó, ông sẽ đền bồi xứng đáng cho. Thầy nhứt Phát không biết lấy cớ chi mà từ được, nên thầy phải hứa lời.
Băi trường, thầy nhứt Phát về Sài G̣n liền. Thầy ở nhà anh là Hà Tấn Tài, đến Tết thầy xin phép anh chị dọn một cái bàn thờ phía chái trên rồi mua hoa quả mà cúng cha mẹ. V́ thầy đă có hứa lời với ông Đốc, nên vừa hết Tết thầy trở xuống Tiểu Cần.
Thầy lại nhà thăm ông Đốc, ông cậy thầy ráp dạy liền. Thầy dạy Thiện Chí hai bữa, coi bộ cần mẫn, mghiêm chỉnh lắm, ban ngày dạy luôn hai buổi, mà tối c̣n dạy tới chín giờ rưỡi. Cô Lê Thị Thiện Tú thấy thầy nhứt dạy kỹ lưỡng, cắt nghĩa rành rẽ, th́ cô cũng nói với ông Đốc, bà Đốc mà cậy thầy hễ Thiện Chí mắc làm bài, th́ thầy cắt nghĩa toán pháp giùm cho cô v́ cô yếu sức về khoa đó lắm. Thầy nhứt chẳng nệ công, nên thầy dạy luôn hai chị em.
Một đêm nọ, thầy nhứt lại dạy, khi ông Đốc, bà Đốc mắc đi đánh bài trong nhà thầy Ban. Học đến chín giờ, tṛ Thiện Chí đói bụng nên đi ra chợ ăn ḿ. Thầy nhứt Phát mới dạy cô Thiện Tú học toán. Dạy một hồi, cô Thiện Tú vụt hỏi rằng:
- Thầy có tính cưới vợ chỗ nào chưa thầy nhứt?
- Việc vợ chồng, tôi chưa dám tính.
- Sao vậy?
- Tôi c̣n nhỏ tuổi, mà lại ăn lương c̣n ít lắm. Nếu tôi vội lập gia thất, một là tôi sợ không đủ trí mà làm một người chồng và một người cha, hai là tôi e không đủ tiền mà nuôi vợ con cho sung sướng được.
- Thầy năm nay mấy tuổi?
- Qua năm mới đây tôi hai mươi ba tuổi.
- Đă hai mươi ba tuổi rồi, c̣n nhỏ ǵ nữa. Nếu thầy đợi già mới cưới vợ, sợ e thầy mắc cái cảnh cha già con muộn, làm sao cho đủ ngày giờ mà dạy dỗ con.
- Chừng năm ba năm nữa rồi cưới vợ cũng được, có ǵ đâu mà già.
- Bây giờ thầy ăn lương bao nhiêu?
- Bốn mươi mấy đồng.
- Ít thiệt há. Nè, mà thôi, thầy coi cô giáo nào đó thầy cưới, rồi lương của hai vợ chồng nhập lại th́ tự nhiên ăn xài phủ phê chớ ǵ.
- Biết cô giáo nào ưng tôi, mà tôi cũng ưng nữa bây giờ? Vợ chồng phải lựa chọn cho đồng tâm hiệp ư, cho biết thương yêu nhau, chớ là phải có tiền mà thôi đâu.
- Thầy nói phải lắm, nhưng mà trong cái gia đ́nh mỗi tháng thiếu trước hụt sau cũng khổ lắm chớ. Tôi đây tôi vái học lấy cho được đip-lôm[1] rồi tôi xin làm cô giáo. Hễ làm cô giáo th́ lấy chồng thầy giáo, đặng vợ chồng có lương hết xài mới đủ.
Cô và nói và ngó thầy nhứt Phát, cặp mắt hữu t́nh. Thầy cũng ngó cô mà cười. Câu chuyện mới tới đó, kế tṛ Thiện Chí bước vô, làm phải dứt ngang thành ra có đầu mà không đuôi.
Đêm đó thầy nhứt Phát về nhà nằm nhớ những lời của cô Thiện Tú hoài, mà cho tới mấy ngày mấy tuần sau cũng chẳng quên được. Thầy suy xét hoài, không hiểu cô nầy có ư chi với ḿnh hay không mà cô khuyên ḿnh chọn cô giáo mà cưới, rồi lại cô nói cô tính cô làm cô giáo. Nếu căn duyên của ḿnh cũng được như vậy, ấy cũng là cái may. Cô Thiện Tú là con nhà tử tế có đủ giáo dục, lại cũng có nhan sắc. Có lẽ cô có thể làm cho ḿnh trọn đời có phước được; mà nếu ḿnh được vợ như vậy th́ ḿnh cũng quyết làm cho cô trọn đời cô hạnh phúc luôn luôn.
Cái điều thầy tính đây là tính thầm trong trí mà thôi, chớ thầy chẳng hề dám nói cho ai biết, mà cũng chẳng dám ló ṃi chi cho cô Thiện Tú hiểu.
Chừng khai trường, cô Thiện Tú lên Sài G̣n mà học tiếp, thầy nhứt Phát ở Tiểu Cần mà dạy như thường. Cách ít ngày thầy Tư Sanh lại nhà thầy nhứt Phát chơi, th́nh ĺnh thầy vụt nói như vầy: "Thầy nhứt nè, tôi coi ư ông Đốc yêu thầy lắm. Ông khen thầy hoài. Hồi hôm tôi lại nhà ổng tôi chơi. Hai ông bà ngồi nói chuyện với tôi, đều tỏ ư cho tôi biết rằng hễ cô Thiện Tú thi đậu đíp-lôm rồi th́ hai ông bà gả cho cho thầy. Thầy chịu hay không?"
Cái tâm sự của thầy nhứt Phát hổm nay thầy giấu giếm hết sức, t́nh cờ thầy Tư Sanh bươi ra, làm cho thầy bối rối trong ḷng, không biết trả lời thế nào cho phải, túng quá thầy mới đáp rằng: "Phận tôi côi cút tôi đâu dám đèo ḅng. Ông Đốc thương mà nói như vậy th́ tôi đội ơn ông lắm. Nhưng mà ư ông muốn vậy, song có biết cô Thiện Tú có chịu vậy hay không. Con gái đời nầy khó lắm, họ học giỏi rồi th́ thiếu ǵ chỗ cao sang gấm ghé, cái chú giáo nghèo nầy có nghĩa lư ǵ".
Thầy Tư Sanh cười mà đáp rằng:
- Cô có giỏi lắm th́ bất quá có đíp-lôm như thầy chớ giỏi giống ǵ.
- Đạo vợ chồng không phải đem sức giỏi dở mà sánh với nhau được. Tôi e là e cái thần kia chớ.
- Thầy nói tôi không hiểu.
- Đờn bà con gái ḷng dạ thường hẹp ḥi, họ được một tí ǵ hơn người th́ họ hay sanh kiêu hănh. Tôi nói tôi sợ là sợ chỗ đó, thầy hiểu hay chưa?
- Hiểu rồi. Mà cô Thiện Tú là con nhà lễ nghĩa, tôi chắc dầu cô có đíp-lôm cô cũng chẳng lấy cớ đó mà kiêu hănh, khinh thị thiên hạ đâu.
- Nếu được vậy th́ quư lắm.
Cái tin của thầy Tư Sanh đem tới đây làm cho thầy nhứt Phát càng thêm xao xuyến trong ḷng nữa, gây cho thầy một cái hy vọng vừa khoan khoái, vừa ngậm ngùi. Nhưng mà cái hy vọng ấy thầy vẫn giấu kín trong trí, thầm đợi một đôi năm nữa cô Thiện Tú học rồi sẽ hay.
Ngày qua tháng lại, thầy nhứt Phát dạy học đă gần măn năm. V́ người ta ít yêu thầy và cũng v́ thầy không chịu chơi như người ta, nên thầy có ngày giờ mà lo phận sự. Học tṛ trong lớp thầy, mấy tṛ nào biết cần cán th́ học giỏi lắm, c̣n tṛ nào biếng nhác hoặc nghinh ngang, th́ thầy trừng trị hẳn ḥi.
C̣n không đầy một tháng nữa th́ tới ngày thi bằng cấp Sơ học. Thầy nhứt Phát tính dạy rút, nên thầy buộc học tṛ lớp thầy, mỗi ngày hễ tan học buổi chiều rồi th́ phải ở lại, đặng thầy dạy học ôn các khoa cần yếu, cho tới năm giờ rưỡi rồi mới được về. Mấy tṛ ham học thảy đều vừa ḷng, duy có một học tṛ cầm chừng bị bó buộc không được về sớm mà đi chơi, th́ cằn rằn phiền trách.
Một buổi sớm mơi, thầy nhứt ở trong lớp đương cắt nghĩa bài cho học tṛ. Th́nh ĺnh ông Đốc học Tâm bước vô, lại có thầy Cai tổng Cao đi theo nữa. Cuộc cắt nghĩa bài bị ngăn trở, nên thầy nhứt Phát trong ḷng không vui, song thầy cũng bước lại cúi đầu và bắt tay chào hai ông đủ lễ. Ông Đốc Tâm làm mặt nghiêm chỉnh, đứng tay chống nạnh, mắt ngó ṿng trong lớp, rồi kêu mà nói rằng: "Tṛ Ḥa bước ra đây coi nào".
Tṛ Ḥa là con của thầy Cai tổng Cao, mới mười sáu tuổi mà vóc vạc cao lớn, mập mạp như trai mười tám, mười chín tuổi, tṛ thủng thẳng bước lại đứng dựa nính đầu bàn lơ cặp mắt mà ngó, không xá ông Đốc mà cũng chẳng chào cha. Ông Đốc thị oai nói rằng: "Học tṛ, học vè ǵ mà vô phép vậy nà!". Tṛ Ḥa bị rầy mới chịu chấp tay mà xá một cái, song xá bông lông không biết xá ai, lại cũng không biết cúi đầu.
Ông Đốc day lại mà hỏi thầy nhứt rằng: "Sao thầy không dạy học tṛ cho biết lễ phép vậy? Tiên học lễ hậu học văn. Dạy chữ mà cũng phải dạy lễ nữa mới được chớ".
Thầy nhứt đáp rằng: "Thưa ông, tôi có dạy đủ hết. Lễ phép tôi dạy hằng ngày. Trong lớp duy có tṛ Ḥa nầy khó quá, tṛ cứng đầu cứng cổ, chẳng bao giờ chịu nghe lời tôi. Tṛ trốn học ở nhà hoài. C̣n đi học th́ chẳng có bữa nào tṛ thuộc bài. Tôi rầy, tôi phạt hết sức cũng vậy, mà tôi c̣n nghe tṛ nói lén với chúng bạn rằng: "Thầy giáo làm phách, tao không thèm học, ngày sau tao cũng sướng, tao cũng sang hơn thầy nữa".
Thầy Cai tổng tằng hắng một tiếng mà nói rằng:
- Thầy nhứt nói vậy tôi xin đỡ lời thầy. Thầy nói trong lớp duy có một ḿnh con tôi khó ăn khó dạy, chớ chẳng có tṛ nào như vậy, té ra các tṛ kia là con thánh hiền hết thảy, c̣n con tôi là con du côn hay sao?
- Thưa thầy, tôi đâu dám nói vậy. V́ có lời ông Đốc quở, nên tôi phải tỏ thiệt tánh t́nh của tṛ Ḥa cho ông Đốc nghe đó chớ. May bữa nay có thầy lại đây, tôi xin cho thầy biết rằng tṛ Ḥa đi học mà chơi, chớ tṛ không cố chút nào hết. Xin thầy la giùm tṛ, chớ học như tṛ đó, th́ thà là ở nhà đi chơi, c̣n có ích hơn là đi học.
- Thầy dạy học tṛ không nên thân, th́ lỗi tại thầy, sao thầy lại mét với tôi? Thằng con tôi thuở nay dễ ăn dễ dạy, năm ngoái ở lớp nh́ nó học khá lắm. Tại sao năm nay thầy dạy mà rồi nó ra như vậy? Tôi biết rồi, thầy cố t́nh ghét riêng con của tôi, tại nó là con Cai tổng nên thầy ghét. Thầy ghét đến nỗi thầy bày mỗi buổi chiều dạy thêm một giờ, ai học cũng được hết, duy có con của tôi thầy không cho học.
Ông Đốc xen vô mà hỏi thầy nhứt rằng: "Tại sao thầy dạy riêng mà thầy không cho tṛ Ḥa học, nên tṛ về tṛ mét với thầy Cai vậy?"
Thầy nhứt cười mà đáp rằng: "Tôi không cho học bao giờ đâu? Tôi bày mỗi buổi chiều tôi dạy riêng thêm một giờ là cốt dọn ôn bài vở và kềm thúc ít ngày đặng học tṛ đi thi. Tôi dạy mấy bữa rày, cả lớp đều ở lại học thêm hết thảy, duy có một ḿnh tṛ Ḥa hễ chiều tan học là tṛ bỏ đi về trước. Tôi lấy làm lạ, tôi hỏi tṛ th́ tṛ nói rằng năm nay không được đi thi nên tṛ không thèm học trễ làm ǵ".
Ông Đốc chận lại mà hỏi thầy nhứt:
- Ai nói tṛ Ḥa không được đi thi?
- Thưa, tôi nói.
- Sao thầy nói như vậy? Tôi làm Đốc học, quyền cho đi thi hay là không cho đều tự nơi tôi, sao thầy dám trộm quyền của tôi mà nhứt định như vậy. Thầy nói bất tử làm cho con nít thối chí nó học sao được.
- Thưa, cho học tṛ đi thi th́ phải chọn lựa những tṛ đủ sức, thi chắc đậu, sẽ cho đi. Trường ḿnh mới thi lần đầu, lại cần phải lựa cho gắt, đi mấy tṛ phải đậu đủ mấy tṛ mới được, chớ đi đông rồi rớt hết th́ có ích ǵ.
- Chuyện đó về quyền của tôi, để ít bữa rồi tôi sẽ nhứt định. Mà dầu thế nào cũng phải cho tṛ Ḥa đi thi.
Thầy nhứt Phát cười mà nói rằng: "Cái đó tự ư ông... Nhưng mà tôi dám đoán trước tṛ Ḥa đi thi, th́ tṛ rớt".
Thầy day lại mà hỏi tṛ Ḥa rằng: "Tṛ Ḥa, tôi không cho tṛ học thêm buổi chiều hồi nào, mà tṛ về mét với thầy Cai rằng tôi không cho tṛ học?"
Tṛ Ḥa ú ớ rồi nói nhỏ nhỏ rằng: "Bữa hổm..." Thầy nhứt giận quá, thầy nạt rằng: "Hôm nào?" Thầy day lại hỏi hết học tṛ trong lớp coi có ai nghe thầy cấm không cho tṛ Ḥa học thêm hay không. Cả lớp đều nói không nghe thầy cấm, mà có nhiều tṛ lại c̣n nói nghe tṛ Ḥa nói chắc không được đi thi, nên không thèm học thêm uổng công.
Thầy nhứt Phát ngó thầy Cai tổng mà nói rằng: "Đó, thấy hay không? Đă làm biếng học mà c̣n kiếm chuyện nói láo nữa". Thầy lại day qua phía tṛ Ḥa đứng mà nói rằng: "Tṛ Ḥa, tội tṛ nói láo, tôi phạt tṛ hai tuần lễ, mỗi bữa học phải ở lại nữa giờ, sớm mơi cũng vậy, chiều cũng vậy, đặng cho tṛ tởn mà bỏ cái thói vu oan cho kẻ bề trên".
Thầy Cai tổng Cao có con không nên thân, đă không chịu học, lại c̣n nói gian cho thầy giáo, nhưng mà thầy không chịu nhận lỗi của con, nghe thầy giáo phạt con, thầy nổi nóng mà nói rằng: "Ḥa, thôi trả sách cho ông Đốc mà đi về. Về liền bây giờ đây. Về giữ trâu mà ăn, không học hành nữa mà làm ǵ".
Thầy Cai vừa nói vừa đi ra cửa. Ông Đốc Tâm đi theo mà nói rằng: "Xin thầy đừng có nóng. M. Phát tuổi đáng con cháu, thầy phiền làm chi". Thầy Cai đáp rằng: "Con tôi có cần ǵ phải học trường nầy đâu. Tôi đem nó qua Trà Vinh học trường tỉnh, hay là đem nó lên học mấy trường tư trên Sài G̣n cũng được vậy mà. Thầy giáo nhứt làm phách, thầy khinh khi tôi quá. Để tôi lại quận tôi thưa cho thẩy coi tôi".
Tṛ Ḥa ôm sách vở đi ra cửa mà theo thầy Cai, đi ngang mặt thầy giáo nhứt, tṛ không thèm cúi đầu; thầy nhứt Phát giận đỏ mặt, nhưng mà thầy cười, rồi tiếp cắt nghĩa bài cho học tṛ như thường, dường như chẳng có chuyện chi hết.
Một lát, ông Đốc trở lại kêu thầy nhứt Phát qua pḥng giấy cho ông nói chuyện. Ông Đốc bộ quạu lắm, ông kéo ghế mà ngồi rồi lật sổ mà coi, để thầy nhứt đứng chờ trân trân. Cách một hồi lâu, ông mới nói rằng: "Thầy bậy quá! Thầy làm cho thầy Cai phiền, bây giờ thẩy sanh chuyện đó, thầy thấy hay không? Chiều nay tan học, thầy phải qua nhà thẩy mà xin lỗi."
Thầy nhứt Phát châu mày đáp rằng:
- Bẩm ông, tôi có lỗi ǵ mà xin. Thầy Cai tổng là người lớn, mà thẩy vô lễ với tôi, lẽ th́ thẩy phải xin lỗi với tôi, chớ sao tôi lại xin lỗi với thẩy.
- Thầy không chịu dạy con thẩy, thẩy tới thẩy thưa với tôi. Thầy đă không nói tiếng chi cho mát ruột thẩy, mà trước mặt thẩy, thầy lại hành phạt con thẩy. Thầy làm như vậy là ư thầy muốn nhục thẩy. Thẩy là một vị Cai tổng, mà trước mặt học tṛ, thầy nhục thẩy như vậy, sao mà thầy gọi rằng không có lỗi.
- Ông nói như vậy th́ hiếp tôi quá! Hồi năy ông thấy rơ ràng, tṛ Ḥa đă làm biếng học mà lại c̣n kiếm lời láo xược mà mét với cha mẹ đặng vu oan cho tôi. Nếu thầy Cai tổng là người biết phân biệt phải quấy, th́ hồi năy thẩy trừng trị con thẩy liền, hoặc biểu nó xin lỗi tôi mới phải. Thẩy lại binh con, nói nặng nhẹ tôi rồi biểu con về liền rơ ràng thẩy ỷ quyền ỷ thế coi bọn thầy giáo không ra ǵ hết. Tôi sợ là sợ người phải, sợ người biết điều kia, thẩy thưa đến đâu cũng được, tôi có lo ǵ đâu. C̣n con thẩy muốn học th́ tôi dạy, bằng không muốn học th́ thôi, mất một tên học tṛ như vậy tôi không tiếc chút nào hết.
- Thầy đă quấy nát mà thầy c̣n nói hơi gây gổ quá vậy sao được. Tôi thường có nói với thầy, ḿnh chẳng nên mích ḷng người lớn. Ḿnh chống cự với người ta th́ người ta lại hại ḿnh như chơi, chớ ḿnh có làm giống ǵ người ta được. Thầy Cai ở đây thẩy thân thiết với quan Chủ quận lắm, mà thẩy lại quen với quan Giám đốc nữa. Thầy chọc thẩy đây, tôi sợ thẩy đi thưa cùng hết, rồi thầy bị quở, mà tôi cũng mang tiếng nữa chớ.
- Xin ông đừng lo. Thẩy thưa tôi th́ tôi trả lời. Thẩy đă lỗi với tôi, mà tôi c̣n phải đi năn nỉ xin lỗi với thẩy th́ c̣n ǵ là cái nhơn phẩm của tôi, c̣n cái ǵ danh giá của ty giáo huấn. Nếu thẩy thưa mà quan trên không xét cho kỹ, trở lại phạt tôi th́ tôi cũng vui ḷng.
- Thầy như em út, tôi thấy tôi thương, nên tôi chỉ đường phải nẻo quấy cho thầy biết. Nghe hay là không nghe tự ư thầy. Nếu có xảy ra việc ǵ, thầy đừng có trách tôi đa nghe. Thôi, thầy qua lớp mà dạy đi.
Buổi chiều, có một tên lính lại trường mời ông Đốc với thầy giáo nhứt chừng tan học qua cho thầy quan Chủ quận nói chuyện. Đi dọc đường, ông Đốc học nói rằng: "Thầy thấy chưa? Tôi nói hay lắm, thầy Cai đă thưa thầy rồi đó". Thầy Phát cười, nhưng mà mặt thầy có sắc lo.
Qua đến quận, quan Chủ quận hỏi ông Đốc với thầy nhứt cái chuyện thầy nhứt làm bỉ mặt thầy Cai hồi sớm mơi và dạy phải cắt nghĩa cho thầy nghe. Ông Đốc đáp rằng: "Việc đó không có ǵ. Tại hai đàng nóng hết nên sanh xích mích. Để thầy nhứt thuật lại cho quan lớn rơ đầu đuôi".
Thầy nhứt Phát đứng bẩm rơ ràng mọi điều, không thêm, không bớt, không bỏ xót chỗ nào hết. Chừng thầy bẩm xong th́ quan Chủ quận mới nói rằng: "Thầy c̣n nhỏ tuổi, lại mới ra làm việc, mà coi bộ thầy không kể ai hết. Tôi khuyên thầy nên mềm mềm một chút, chớ nếu thầy cứng quá tôi sợ e phải găy. Thôi thầy về đi".
Đến tối, ông Đốc cho mời thầy nhứt Phát lại nhà mà nói rằng: "Quan Chủ quận trách thầy lắm. Ngài nói thầy c̣n nhỏ mà thị đời quá, lại cha mẹ học tṛ than van cách thầy dạy; vậy thầy ráng mà giữ ḿnh, đừng có để xảy ra việc chi đây rồi khó lắm".
[1] (diplôme), bằng trung học theo chương tŕnh giáo dục cũ của Pháp
Lăng Tử
21-04-2009, 02:36 PM
Ở Theo Thời
Phần Năm
Thầy nhứt Phát dám căi lịnh ông Đốc học, không chịu hạ ḿnh mà xin lỗi, lại c̣n dám chỉ cái chỗ quấy của thầy Cai tổng ra nữa, th́ đủ thấy thầy có liêm sỉ, có đởm lược, chớ không phải như bọn gan sứa miệng hùm. Nhưng mà lớp bị quan Chủ quận hăm, lớp bị ông Đốc học dọa, nên thầy có sắc buồn lo chút đỉnh.
Bữa sau, nhằm thứ bảy, ăn cơm tối rồi, thầy nhứt Phát ngồi coi sách. Khí trời nóng nực, ngọn đèn lu lờ bụng đă buồn, trí lại lo, mà c̣n gặp cái hoàn cảnh trời nực đèn lu nữa, nên thầy coi sách mà không hiểu chi hết. Thầy bèn dẹp sách rồi bước ra đường, đi qua đi lại mà hứng mát. Chơn bước thủng thẳng, trí nghĩ gần xa, thầy nhớ cái chuyện thầy Cai tổng khinh bỉ thầy, nhớ những lời quan Chủ quận quở trách, th́ thầy ấm ức trong ḷng. Thầy muốn kiếm người thân thiết mà bày tỏ tâm sự, hả hơi chút ít cho giảm bớt nỗi phiền, mà bây giờ biết tỏ với ai?
Những người làm việc nhà nước như mấy thầy giáo thầy kư, ông Phán dây thép, th́ ai cũng lợt lạt với thầy, nói cho họ nghe cũng không ích ǵ. C̣n Hương chức thảy đều là người phục sự của thầy Cai tổng nói cho họ nghe bao giờ họ nói ḿnh phải. Thầy tính viết thơ mà nói cho người anh ở Sài G̣n biết, rồi thầy nghĩ việc nhỏ mọn nói cho anh hay, sợ anh lo. C̣n nếu viết thơ cho thầy giáo Phùng ở Vĩnh Long, th́ lại e thầy không rơ căn nguyên rồi thầy trách ḿnh nóng nảy.
Thầy nhứt Phát đang suy tới xét lui, th́nh ĺnh thầy gặp thầy Hội đồng Bành Đại Lợi, mặc đồ mát, ở phía chợ đi về. Thầy Hội đồng thấy thầy giáo th́ đứng lại bắt tay chào rồi hỏi nho nhỏ rằng: "Tôi mới nghe nói ngày hôm qua thầy Cai tổng binh con, vô trường cự với thầy sao đó, rồi qua quận mà thưa làm cho quan Chủ quận kêu mà quở thầy, có vậy hay không?
Thầy nhứt gượng cười mà đáp rằng:
- Có. Ai nói với thầy mà thầy hay lẹ vậy?
- Ngoài chợ họ hay hết, ai cũng đồn rùm.
- Họ đồn làm sao? Họ cho tôi quấy hay là thầy Cai quấy?
- Có hai ba người nói chuyện với tôi hồi năy th́ ư họ cho thầy quấy. Họ nói thầy nhỏ mà không biết kiêng nể người lớn, nên mới sanh sự bị quở. Đời nầy thiên hạ khốn nạn lắm thầy ơi! Ở trên th́ cậy thân ỷ thế, ở dưới th́ dua bợ nịnh tà, họ kể tiền bạc, họ trọng oai quyền, chớ có ai biết chi là phải quấy. Họ thấy thầy c̣n nhỏ, nên họ coi thầy không ra ǵ, chớ có chi lạ... Ở ngoài đường ngoài sá nói chuyện cũng bất tiện. Vậy tôi mời thầy đi qua nhà tôi nói chuyện chơi. Đi mà, bữa nay thứ bảy mà ngại ǵ.
Thầy nhứt Phát dụ dự. Thầy Hội đồng Lợi bèn nói tiếp rằng: "Hồi thầy đổi lại đây tới bây giờ, thầy chưa tới nhà tôi lần nào. Qua chơi một lần cho biết nhà. Tôi ở bên đầu cầu sắt đây. Đi mà, qua bển rồi thuật rơ đầu đuôi chuyện của thầy cho tôi nghe thử coi."
Thầy nhứt Phát ấm ức, tính kiếm người thân thiết mà tỏ tâm sự. Thầy gặp thầy Hội đồng Lợi, tuy thầy không quen cho lắm, nhưng mà thấy người tỏ dấu niềm nở, lại nghe người tỏ lời ái truất, muốn biết rơ tâm sự của ḿnh, bởi vậy thầy không dụ dự nữa, theo thầy Hội đồng mà đi.
Thầy Hội đồng Bành Đại Lợi vốn là con cháu khách[1], năm nay thầy lối năm mươi tuổi. Qua cầu rồi, đi chừng vài trăm thước th́ tới nhà thầy. Thầy ở một cái nhà trệt ba căn hai chái, rộng lớn, cao ráo, nền đúc đá xanh, tường xây gạch thức, trước sân kiểng vật sum sê, ngoài ngơ rào sắt nghiêm chỉnh, có trâu ḅ mấy bầy, mà lại có ngựa cỡi đi coi ruộng nữa.
Bước vô nhà, thầy kêu con trai lớn tên là Hai Lộc chừng hai mươi lăm tuổi, mà biểu mở cửa giữa, đốt đèn măng sông. Thầy mời thầy giáo nhứt ngồi rồi nói rằng: "Thằng nầy là con trai lớn của tôi, nó có vợ, có con rồi. Tôi c̣n bốn đứa nữa: một đứa con gái gả lấy chồng về bên Bắc Trang, một thằng con trai học trên Sài G̣n, và hai đứa nhỏ, con gái mới bốn năm tuổi".
Cô Hội đồng ra chào thầy nhứt. Thầy Hội đồng dặn nho nhỏ, biểu làm gà nấu cháo ăn chơi.
Chừng đèn măng sông đốt sáng, thầy nhứt ngó trong nhà th́ thấy bàn ghế tài vật món nào cũng xứng đáng.
Có một người đàn ông sồn sồn, thân thể ốm teo, bưng nước trà ra đăi khách, rồi đi vào bộ ván dựa chái là chỗ có để một mâm á phiện, quẹt hột quẹt, đốt đèn lên. Thầy Hội đồng cười mà nói với thầy nhứt rằng: "Tôi có bịnh hút á phiện, mỗi ngày tôi hút tới ba bốn đồng. Vậy tôi xin mời thầy đi ngay lại mâm hút rồi anh em ḿnh nằm đàm đạo chơi".
Hai người dắt nhau lại mâm á phiện, trẻ ở trong nhà bưng trà theo. Thầy Hội đồng mời hết sức mà thầy nhứt không chịu nằm, thầy nói ngồi chơi cũng được. Người làm thuốc làm rồi điếu thuốc, thầy Hội đồng hỏi rằng: "Thầy muốn hút chơi hay không?" Thầy nhứt sợ cái bịnh ghiền lắm, bởi vậy thầy lắc đầu đưa tay mà nói lia lịa rằng: "Không! Tôi không dám đâu".
Thầy Hội đồng cười mà nói rằng: "Thiệt a, nếu không biết hút th́ chẳng nên tập làm chi. Cái bịnh nầy khốn nạn lắm. Có tiền chẳng nói ǵ, chừng ḿnh hết tiền, cái thân thiệt là đê tiện".
Thầy Hội đồng hút luôn một giọt đến năm sáu điếu coi bộ đă, rồi thầy mới ngồi dậy mà hỏi thầy nhứt về chuyện xảy ra ở trường học hôm qua và xin thầy nhứt thuật hết đầu đuôi cho ḿnh nghe thử.
Thầy nhứt ngồi thuật chuyện rơ ràng mọi điều cũng như thầy thuật lại với quan Chủ quận nghe bữa trước.
Thầy Hội đồng nghe rồi nói rằng: "Nếu vậy th́ thầy Cai có con hư, đă không biết trừng trị nó mà c̣n nghe lời nó rồi nói tầm bậy mích ḷng thầy. Thầy Cai lỗi, chớ thầy có lỗi ǵ mà ông Đốc ép thầy xin lỗi. C̣n thiên hạ họ vô duyên quá! Vậy mà họ đồn bậy bạ, họ nói thầy nhỏ mà không kiêng nể người lớn nên bị quở chớ! Ối! Cuộc đời vậy đó, thầy không hơi nào mà buồn. Thầy c̣n nhỏ, tôi khuyên thầy ráng dằn ḷng bền chí, bất luận là làm thế nào, cách nào miễn là được giàu, được sang, rồi dầu thầy làm ác họ cũng nói làm lành, dầu thầy làm làm quấy họ cũng nói làm phải, chớ bây giờ dầu thầy hay mấy họ cũng chê thầy dở, dầu thầy phải mấy họ cũng cho là quấy."
Thầy nhứt Phát nghe mấy câu trách đời ấy như khêu gợi ḷng uất ức của thầy, bởi vậy thầy thở dài rồi nói rằng: "Thầy nói tôi nghe thiệt phải lắm. Tôi đổi lại dạy học tại đây đă tám chín tháng rồi. Đối với mọi người, dầu lớn hay nhỏ cũng vậy, tôi giữ lễ luôn luôn, chẳng hề mích ḷng ai, mà chẳng hề nói động tới ai hết. Rất đổi là anh em bạn trong ty giáo huấn tôi c̣n cung kính người ta thay, có đâu tôi dám làm phách với người lớn. Về phận sự dạy học của tôi th́ tôi giữ tṛn, ông Đốc chẳng hề đút miệng trách chỗ nào được. C̣n về bề cư xử th́ tôi cũng giữ kỹ lưỡng, chẳng hề khi nào tôi gần chỗ hư, hay là chơi vô ích, hay là làm nhơ nhuốc. Tôi ở vậy đó mà thiên hạ họ ghét tôi mới kỳ... V́ năy giờ tôi thấy thầy có ư thương tôi, tôi nghe thầy nói lời công b́nh, vậy tôi mới dám tỏ hết công chuyện cho thầy nghe. Lúc tôi mới đổi lại, mấy thầy và Hương chức cứ theo rủ tôi đánh bài bạc. Tôi không biết đánh, tôi không chịu tập, nên tôi không thèm coi, họ rủ ren quyến dụ không được, rồi họ nói tôi làm phách. Ông Hương sư mời đám giỗ. Ăn rồi khách khứa bài bạc đủ thứ. Tôi không thích cuộc chơi như vậy, nếu tôi ở th́ tôi ngồi trơ trơ một ḿnh coi cũng kỳ, nên tôi bỏ ra về. Họ lại trách tôi là người bất cận nhơn t́nh. Tôi đến nhà thầy giáo Thủ tôi thăm, tôi không dè thầy có em vợ. Thẩy biểu em vợ ra chào tôi. Cách vài ngày người ta đồn rùm rằng tôi đi nói[2] em vợ thầy giáo Thủ. Tôi không có ư đó, nên tôi phải đính chánh cái tin huyễn hoặc ấy. Thầy giáo Thủ lại trở lại giận tôi. Hôm lễ sanh nhựt, anh em bày hùn tiền mướn ghe đi du hồ. Tôi sợ người ta nói tôi kiêu, nên tôi mới hùn tiền như thiên hạ. Chẳng dè ghe kiệu lui ra khỏi chợ một đỗi rồi ghé rước ba con điếm đem theo, trửng giỡn rầm rầm, coi tồi bại hết sức. Tôi không chịu xen vào cái cuộc chơi khiếm nhă như vậy, tôi ngồi dang ngoài xa, họ lại trách móc tôi làm bộ Tiên Phật, làm cho họ mất vui. C̣n về cái phận sự của tôi th́ tôi cần mẫn, mỗi việc đều ngay thẳng vuông tṛn, hôm qua thầy Cai lại mắng tôi, biểu con về, không cho học nữa, rồi lại thưa kiện tôi, nói tôi không kiêng nể người lớn. Thầy nghĩ đó coi có đáng buồn hay không? Tôi biết mấy tháng nay người ta không ưa tôi, tôi không đi chơi đâu hết, cứ ở nhà đọc sách. Thế t́nh khó quá, không biết làm sao cho vừa ḷng thiên hạ được!"
Thầy Hội đồng Lợi ngồi chăm chú mà nghe, chừng thầy nhứt nói dứt rồi, thầy mới nằm xuống hút một điếu, kéo ống nghe ro ro. Kéo hết điếu thuốc, thầy ngồi dậy phà khói và nói rằng: "Thầy không biết làm sao cho vừa ḷng thiên hạ? Thầy phải đánh bài bạc như họ, phải hút á phiện với họ, phải cướp giựt gian lận như họ, th́ tự nhiên họ ưa chớ có khó ǵ".
Thầy Hội đồng rót một chén nước tra mà uống rồi thầy chậm răi nói tiếp rằng: "Chẳng giấu ǵ thầy, tôi đây cũng vậy, hồi đó người ta ghét tôi lung lắm. Tôi dại quá, tại tôi muốn cho người ta thương, tôi làm theo người ta, tôi để cho họ lột da tôi, bây giờ tôi mới nguy như vầy. Thầy là anh em, mà ở đây cũng không có ai lạ, vậy để tôi thuật sơ việc nhà của tôi cho thầy nghe. Ông già tôi qua đời, có để lại cho tôi năm mươi mẫu ruộng. Vợ chồng tôi lam lụ làm ăn, cần kiệm hết sức. Nói cho phải, nhờ Trời Phật pḥ hộ, nên làm ăn càng ngày càng khá, cho vay đặt nợ chỗ nào họ cũng trả lời vốn đủ hết. Từ năm 1920 trở lại sau nhờ giá lúa cao, lại nhờ trúng mùa luôn luôn, nên tôi làm giàu ngay, chớ không phải khá mà thôi. Tôi cất nhà cất cửa lại, mua ruộng mua đất thêm, lần lần tại Tiểu Cần đây tôi đứng bộ tới một trăm năm mươi mẫu ruộng ngoại hạng, mà tôi lại có mua bên Phước Long được một sở năm trăm mẫu nữa. Mấy năm trúng mùa, tôi góp lúa từ hai mươi tám tới ba chục ngàn giạ, chớ phải ít hay sao. Họ thấy tôi tiền bạc lúa thóc nhiều, họ tới rủ ren nhiều việc kỳ cục lắm. Tôi nghĩ phận tôi là con cháu khách, phần th́ chữ quốc ngữ tôi biết cọt quẹt chớ không giỏi, quan trên thương cho làm chức Hương bộ mấy năm cũng vừa rồi, bởi vậy ai bàn việc ǵ tôi cũng không chịu, cứ thủ phận quê mùa làm ăn. Có người họ xúi tôi mua chức Ban biện, họ nói rằng có của cải mà không có chức phận th́ thiên hạ khinh khi. Tôi có nói khinh khi mặc ai, phận tôi quê dốt, tôi không dám đèo ḅng. Họ xúi giục không được, họ trở lại ghét tôi, cả làng không ai thèm lui tới nhà tôi nữa, cách họ làm dường như họ tẩy chay tôi vậy. Phận tôi không cần ǵ, cơm ḿnh ḿnh ăn, nhà ḿnh ḿnh ở, ai thương ghét mặc ai. Ngặt v́ vợ tôi cứ theo cằn nhằn, bả nói ở đời người ta sao ḿnh vậy coi mới được, chớ ḿnh ỷ có tiền rồi không giao thiệp với ai hết, th́ thiên hạ họ khi dể. Tôi thấy đờn bà muốn như vậy, tôi cũng ch́u ḷng. Nhơn dịp gả con gái tôi lấy chồng, tôi mới đặt một tiệc rất xứng đáng, mời hết Hương chức tân cựu và điền chủ, tôi lại chiều ḷn năn nỉ mời cho được quan Quận, thầy Cai và thầy Ban. Ba viên quan nầy chịu đi, th́ Hương chức và điền chủ ai cũng đi hết thảy. Nhờ cái tiệc đó giả lả, nên kết t́nh thân thiết với anh em trong làng lại được. Từ đó về sau họ mới tới lui, họ mới hết ghét tôi nữa và tôi mới bắt đầu thọ hại!"
Thầy Hội đồng nằm xuống hút hai ba điếu nữa. Thầy nhứt Phát đương bị người ta ghét mà nghe thầy Hội đồng Lợi nói thẩy hồi trước cũng bị như ḿnh, sau thẩy làm cho người ta thương mới bị hại, th́ lấy làm lạ, nên ngồi trông thẩy nói tiếp coi chuyện ra thể nào.
Thầy Hội đồng ngồi dậy, vén bắp vế mà găi, rồi cười mà nói: "Bây giờ tôi mới biết ở đời sự thương hay là ghét của thiên hạ không nghĩa lư ǵ. Thầy nghĩ đó mà coi, họ ưa tôi, họ báo tôi không biết bao nhiêu. Thầy biết chú Hương thân cầm cái tiệm ở trước nhà việc hay không? Ớ, cái chú đó lếu lắm. Chú làm thông tin cho nhựt tŕnh, nhựt báo ǵ đó không biết, mà chú cứ qua nhà xúi tôi mua một năm. Tôi nghĩ một vài chục đồng bạc cũng không bao nhiêu, nên tôi vị t́nh mua giùm cho chú. Chú ăn quen tới lui chơi hoài, khi th́ xin tiền gởi cầm giúp cho ai bị băo lụt ở đâu không biết, khi th́ chú dắt khách ở đâu lạ hoắc tới nhà rủ hùn lập tiệm lập hăng, hoặc in sách in vở ǵ đó, khi th́ chú đem nhựt tŕnh đến đọc cho tôi nghe mấy cái bài người ta khen ngợi tôi, nói nhà tôi giàu mà ham làm việc công ích, biết thương người đồng chưởng[3], biết bồi đắp quê hương. Thiệt tôi có biết công ích, tôi có biết đồng chưởng, tôi có biết quê hương là giống ǵ đâu, mà sao nhựt tŕnh họ khen bướng như vậy không hiểu. Mà đờn bà của tôi nghe thế bả chịu lắm, lại chú Hương thân Cầm cái văn nói của chú thiệt là hay, nên khi th́ tôi đưa vài ba chục mà giúp, khi th́ tôi đưa đôi ba trăm mà hùn, những tiền tốn hao như vậy đó mỗi năm tính cũng có tới năm bảy trăm chớ có ít đâu. Mà sự tốn hao đó cũng chưa bao nhiêu. Có cái trận nầy tôi mới tốn thiệt nặng. Để tôi nói cho thầy nghe coi phải họ thấy tôi có tiền họ bày chuyện mà xẻ tôi hay không. Một bữa nọ, thầy Cai tổng viết giấy sai tùng giả đem mà mời tôi. Tôi lật đật đi hầu. Thầy Cai mới nói rằng trong tổng sẽ mở cuộc tuyển cử Hội đồng địa hạt, nghe lại th́ có một ḿnh Hương chủ Thống ở làng Hiếu Tử ra tranh cử mà thôi. Vả thầy dọ ư cử tri các làng th́ phần đông không chịu bỏ thăm cho Hương chủ Thống, họ nói thằng cha đó gắt gao độc ác, không đáng mặt đại biểu của dân, và họ ước ao cho tôi ra tranh cử th́ họ bỏ thăm cho tôi hết thảy, v́ họ biết tôi tuy giàu có mà sẵn có ḷng lo công ích. Thầy Cai khuyên tôi phải ra mặt đặng cho vừa ḷng Hương chức các làng, thầy làm đầu giúp đỡ mọi việc hết thảy, không có sao đâu mà ái ngại. Tôi tỏ thiệt với thầy Cai rằng tôi quê mùa dốt nát, không xứng đáng làm chức Hội đồng, nên tôi xin thầy chọn người khác. Thầy làm mặt giận, tôi sợ quá nên tôi xin với thầy để tôi về bàn tính việc nhà rồi tôi sẽ trả lời. Thầy ừ mà lại dặn tôi về biểu đờn bà của tôi qua hầu thẩy đặng thầy dạy việc. Tôi về nói chuyện lại cho vợ con hay. Đờn bà của tôi rầy quá, bả nói thầy Cai thẩy thương thẩy muốn giúp tôi, sao tôi không chịu, làm bỉ mặt thẩy đây thẩy giận đố khỏi mang khốn. Bả liền che dù qua hầu thầy Cai. Thầy Cai nói với bả sao đó không biết, mà bả về bả cự với tôi, bả nói thầy Cai rầy quá nên bả chịu rồi, vậy phải lo ra tranh chức Hội đồng, đừng có từ chối ǵ hết. Bả lại nói thầy Cai hứa làm đơn và xin giấy tờ giùm cho, thầy cũng kiếm người trong mỗi làng đặng nói giùm với cử tri cho nữa. Thiệt quả, chiều có Biện tổng đem đơn xin ra mặt qua mà biểu kư tên và nói sáng bữa sau sẽ đi Trà Vinh mà xin sao lục án Ṭa giùm. Cách vài ngày các Hương chức tới nhà tôi rần rần. Lớp th́ lo đăi đằng, lớp th́ chịu tiền xe, tốn hao hung quá. Gần tới ngày tuyển cử, họ nói Hương chủ Thống quyết ăn thua, nên ra tiền mua thăm hung quá, mỗi lá thăm giám mua tới hai chục, hăm lăm đồng. Vợ chồng tôi bàn tính với nhau, Hương chủ Thống không phải giàu hơn ḿnh mà nó giám làm như vậy, lẽ nào ḿnh lại nhịn thua nó. Tôi cũng phải mua thăm. Bữa cử, tôi hơn Hương chủ Thống được mười hai lá thăm, tôi đắc cử. Cha chả! Mà tốn hao nặng quá. Về đăi đằng, về mua thăm, về đền ơn nghĩa chỗ nầy, chỗ kia, cọng hết thảy non tám ngàn đồng!"
Thầy Hội đồng nói tới đó rồi thầy lắc đầu cười và hỏi thầy nhứt rằng:
- Thầy coi có phải tôi dại hay không?
- Có dại ǵ đâu, muốn có chức phận với người ta th́ phải tốn tiền chớ sao. Đời nầy ai cũng phải vậy.
- Làm Hội đồng địa hạt mỗi năm đi hội có vài lần, chớ có quyền hành ǵ đâu mà tốn hao lung quá.
- Phải. Trong cuộc tuyển cử mà bày mua bán thăm là một điều không tốt. Mà lại tranh giành với nhau, tự nhiên sanh cái tệ ấy, biết làm sao. Thôi có tốn hao chút đỉnh thầy mới được ăn trên ngồi trước, chớ ông Hương chủ ǵ đó ổng cũng hao tiền, mà ổng thất cử đó sao.
- Thầy đừng có nói chuyện ăn trên ngồi trước! Nói tới tôi c̣n buồn nữa. Tại cái ăn trên ngồi trước đó tôi mới nguy. Rồi cuộc tuyển cử, họ bày cho tôi đăi tiệc mà tạ ơn cử tri . Nhơn cái dịp đó, Hương chức các làng ai cũng khoe có công giúp tôi hết thảy, ai cũng xưng là anh em thiết của tôi. Đăi tiệc tốn hao chẳng nói ǵ. Ngặt v́ từ đó về sau anh em quen biết đông quá, đầu nầy mời đám giỗ, đầu nọ mời đám cưới, đi riết rồi bày chơi bời bài bạc, hùn lập ngành thầu hốt me, nhiều người mượn bạc tiền không chịu trả, có người lại cậy đứng giấy bảo lănh nợ giùm nữa. Chẳng giấu chi, mấy năm nay đất tôi bên Phước Long bị thất mùa luôn luôn, phần lúa không có giá, nên tôi mắc nợ bộn mà không trả nổi. Trong số nợ đó, gần phân nửa là số tôi bảo lănh cho người ta.
- Nợ lănh là nợ của ḿnh. Thầy bảo lănh chi vậy?
- Th́ thấy anh em năn nỉ quá, biết làm sao. Họ cần dùng tiền, họ tới năn nỉ ḿnh bảo lănh giùm cho họ vậy. Ḿnh thấy họ có nhà có đất chắc chắn, thế nào họ cũng trả nổi, có sao đâu mà sợ. Ai dè có người th́ bị thiếu nợ nhiều chỗ khác nữa, điền đất đă cầm cố cho chủ nợ trước rồi, nợ trả không nổi, chủ nợ trước th́ hành phát măi lấy hết đi. C̣n có người vay rồi, lại lén bán đất mà trốn đi mất. Ḿnh bảo lănh, đỗ đục về ḿnh phải chịu, chớ biết làm sao. Tôi nghĩ lại thiệt tôi dại lắm. Tại tôi muốn cho họ thương, nên tôi mới mang nợ mang nần, chớ nếu tôi giữ chức Hương bộ cựu, không cầu ai khen, dầu ai thương, ai ghét thây kệ, th́ tôi sung sướng lắm. Mà thầy biết mấy năm nay tôi mắc nợ, trong nhà bẩn chật, rồi thiên hạ ở với tôi làm sao không? Họ coi tôi không ra ǵ hết. Đó, như bên Hương sư Lầu đám giỗ họ có mời tôi đâu.
- Không có mời thầy hay sao?
- Không. Họ biết hai năm nay tôi thua nhiều, c̣n tiền bạc ǵ mà mời. Thầy thấy nhơn t́nh như vậy hay không? Thiên hạ xấu lắm thầy ơi! Ai cũng là "thằng điếm" hết thảy, bất luận là họ nói tiếng chi, hay họ làm việc chi, họ đều tính cho có lợi hết thảy. Tôi đă có kinh nghiệm rồi, nên tôi chỉ giùm cho thầy tránh. Thầy chẳng nên tin ai. Họ ghét thầy là v́ họ lột da thầy không được nên họ mới ghét. Họ thương thầy là v́ họ có lợi nên họ mới thương. Ấy vậy ở đời nầy ḿnh cần lo giữ cái túi của ḿnh trước hết đă, rồi sau sẽ nói chuyện thương ghét.
- Tôi mới bước chơn vào đường đời mấy tháng nay, mà tôi thấy nhiều việc tôi chán ngán rồi. Nay tôi nghe lời thầy nói chuyện nhơn t́nh nhiều chỗ đê tiện nữa th́ tôi càng thêm buồn. Vậy th́ cái nền luân lư của nước tôi đă suy sụp rồi c̣n ǵ!
Hai người đàm luận tới đó, kế con thầy Hội đồng lại mời đi ăn cháo. Hai người đồng một bịnh uất về thế t́nh nên coi bộ tâm đầu ư hiệp lắm.
Ăn cháo gà rồi, thầy nhứt Phát từ mà về. Thầy Hội đồng Lợi biểu bạn[4] xách đèn lồng đưa thầy giáo và khi ra cửa, thầy đặn nói rằng: "Thầy có buồn, tối qua bên nầy đàm đạo chơi nghe hôn thầy nhứt. Tôi với thầy coi bộ hiệp ư với nhau lắm..."
[1] người Hoa ở Việt Nam
[2] cầu hôn
[3] đồng chủng
[4] người giúp việc trong nhà
Lăng Tử
21-04-2009, 02:36 PM
Ở Theo Thời
Phần Sáu
Thầy Hội đồng Bành Đại Lợi cách nói chuyện th́ là quê mùa, lời luận biện th́ là dốt nát, nhưng mà cái quê của thầy nó có cái vẻ chơn chất, cái dốt của thầy có cái vẻ tự nhiên, bởi vậy người có ư dọ nhơn t́nh hay là có tánh xét thái thế, ngồi nghe thầy nói chuyện, ắt phải sanh một mối cảm lạ lùng, rồi trong ḷng bắt mến thầy về cách quê lời dốt ấy.
Tại như vậy đó mà thầy nhứt Phát là một người hay khảo cứu thái thế, lại đương uất về nhơn t́nh, thầy nói chuyện với thầy Hội đồng Lợi có mấy giờ đồng hồ rồi trong ḷng thẩy mến thầy Hội đồng Lợi hơn hết thảy mọi người trong xứ Tiểu Cần. Thầy nhớ những lời Hội đồng Lợi khuyên lơn thầy mấy điều thuở nay chưa từng nghe ai khuyên như vậy. Thầy nhớ cái cách thầy Hội đồng Lợi ngồi nói tự nhiên những chuyện thuở nay người ta cho là xấu hổ nên không dám nói ra. Thầy đă mến về mấy chỗ đó, mà lại c̣n mến v́ thầy Hội đồng Lợi với thầy tâm đầu ư hiệp nữa.
Từ đó về sau cách đôi ba đêm th́ thầy nhứt Phát với thầy Hội đồng Lợi có gặp nhau một đêm, nếu người nầy không qua th́ người kia lại, mà mỗi lần gặp nhau th́ đàm luận việc đời, chỉ chỗ phải, chê chỗ quấy của thiên hạ, đến hai ba giờ đồng hồ cũng không nhàm.
Một đêm nọ, hai người đương nói chuyện gia đ́nh, thầy Hội đồng hỏi thầy nhứt rằng: "Thầy nhứt nè thầy đă trọng tuổi, mà lại có chỗ ăn chỗ làm, sao thầy chưa lo cưới vợ dặng lập gia thất với người ta? Nếu thầy muốn, tôi kiếm chỗ tôi chỉ cho thầy coi, rồi như thầy đành th́ tôi làm mai giùm cho".
Thầy nhứt Phát đă có một cái ư riêng, mà ư ấy thầy chưa dám thổ lộ cho ai biết, bởi vậy thầy nghe lời Hội đồng hỏi th́ thầy châu mày, ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp rằng:
- Việc vợ chồng tôi chưa tính được. Có lẽ một vài năm nữa rồi sẽ hay. Vợ là một người bạn trăm năm của ḿnh, phải lựa người một tánh, một ư với ḿnh mới được, chớ làm bốc hốt chồng một tánh, vợ một ư, thành ra gia đ́nh là cái cảnh địa ngục trọn đời, ḿnh chịu sao nổi.
- Thầy nầy kén vợ quá! Coi chỗ nào được th́ cưới phứt, hơi nào mà kén. Để tôi kiếm chỗ thiệt thà, mà có ruộng đất, đặng sau nầy thầy nhờ chớ.
- Không được đâu.
- Sao vậy?
- Thiệt thà là một tánh tốt thiệt. Nhưng mà có vợ thiệt quá, mở miệng ra nó nói cụt ngủn, cụt ngẳn, ḿnh nói xa nói gần nó không hiểu ǵ hết, thế cũng khó chịu lắm chớ. C̣n tính cưới vợ giàu th́ cũng quấy nữa. Làm đờn ông hễ có vợ th́ ḿnh phải lănh nuôi vợ, chớ sao lại mong nhờ nó.
- Ḿnh có vợ bên vợ chia gia tài, ḿnh lănh mà ăn, như vậy xấu hổ lắm hay sao?
- Không xấu hổ lắm, nhưng mà ḿnh tính cưới vợ giàu đặng hưởng gia tài th́ là không tốt.
- Hừ! Thầy khéo nói! Có nhiều người họ mưu sự hoặc lập thế, hoặc dụng quyền mà cướp giựt của thiên hạ mà họ làm giàu, rồi cũng thấy có ai chê cười họ đâu, coi thế thiên hạ lại kính phục họ lắm chớ. Lănh gia tài bên vợ có cái ǵ gian ác đâu mà thầy nói không tốt?
- Ậy, của ḿnh làm ra mà ăn th́ tốt hơn hết.
- Làm cách nào cũng là làm vậy chớ. Thầy nói trái đời quá! Vậy chớ thầy không thấy thiên hạ họ ăn của người khác làm ra đó sao. Như tôi đây nè, của tôi làm ra mà thiên hạ họ ăn đó.
Hai người cười x̣a.
Đến kỳ thi bằng sơ học, học tṛ của thầy nhứt Phát đi thi mười lăm, đậu được mười bốn, rớt có một học tṛ. Ông Đốc học mừng quá, ông cám ơn và khen ngợi thầy nhứt vô cùng. Đến băi trường, ông Đốc cậy thầy nhứt dạy riêng giùm con ông. Thầy nhứt mắc về Sài G̣n nên không dám hứa lời.
Lúc băi trường thiệt thầy nhứt Phát ở với anh trên Sài G̣n trọn hai tháng. C̣n vài ngày nữa khai trường thầy mới đi xe hơi đ̣ mà xuống Tiểu Cần. Xe xuống tới Vĩnh Long đậu nghỉ cho hành khách ăn uống. Một lát có xe hơi đ̣ Trà Vinh cũng lên đậu gần đó và trên xe có tiếng người kêu "thầy nhứt, thầy nhứt" tưng bừng.
Thầy nhứt Phát bước lại gần th́ thấy cô Thiện Tú với em là tṛ Thiện Chí xuống xe đi uống cà phê. Cô Thiện Tú ngó thầy nhứt Phát, miệng chúm chím cười mà nói rằng: "Hai chị em tôi đi nhập trường. Xưa rày tôi về tôi trông thầy dữ quá. Tôi muốn gởi thơ, ngặt không biết thầy về Sài G̣n ở đường nào, số nhà mấy mà gởi. Bộ thầy giận tôi hay sao mà băi trường thầy ở miết trển, không chịu xuống dạy tôi? Năm nay tôi thi. Nếu tôi thi rớt, tôi mắc đền thầy cho thầy coi"
Xe bóp kèn kêu hành khách. Thầy nhứt Phát không kịp trả lời, lật đật từ giả mà đi, chỉ mắt liếc miệng cười mà tỏ dấu ḿnh cảm những lời trách móc mà hữu t́nh của cô nọ.
Qua năm sau, thầy nhứt Phát cũng dạy như thường. Mấy thầy cùng làng tổng đối với thầy cũng lạt lẽo như năm trước, duy có thầy Hội đồng Bành Đại Lợi th́ hay qua lại mà đàm luận.
Một bữa chúa nhựt, thầy nhứt Phát qua thăm thầy Hội đồng, thấy thầy nọ nằm gác tay ngang trán, mặt buồn xo. Thầy nhứt Phát hỏi có việc chi mà sắc mặt ưu sầu. Thầy Hội đồng thở dài mà nói rằng: "Việc nhà tôi bối rối một chút, nên mấy bữa rày tôi không vui. Tôi nhớ tôi đă nói với thầy, ruộng đất của tôi nhiều mà tôi thiếu nợ cũng bộn, lớp th́ nợ riêng của tôi, lớp th́ tôi lănh cho anh em. Hiện bây giờ tôi đứng bộ tại Tiểu Cần một trăm năm mươi mẫu ruộng ngoại hạng và bên Phước Long một sở năm trăm mẫu. Ruộng bên nầy giá đáng bốn trăm đồng một mẫu, c̣n ruộng Phước Long hồi đó tôi mua giá gần hai trăm đồng một mẫu. Cộng hết gia tài của tôi ít nào cũng một trăm năm chục ngàn đồng, không kể nhà cửa. Mấy năm trước, mùa thường thường, tôi thâu góp về lúa ruộng, về lúa vay, gần ba chục ngàn giạ, th́ mỗi năm tôi có huê lợi ba mươi sáu ngàn đồng bạc. Mùa rồi đất bên Phước Long hồi cấy rồi th́ bị tim[1], chừng lúa trổ lại bị háp[2]. Tôi thất dữ quá. Tôi thâu góp hết sức, mà về bên nây, về bên Phước Long cộng non mười ba ngàn giạ. C̣n nợ th́ thiệt phần riêng của tôi thiếu về vốn về lời chừng năm ngàn. Ấy là nợ hồi mua đất Phước Long hụt tiền nên tôi phải vay thêm, Rồi bị mấy năm làm Hội đồng phải ăn xài chơi bời với anh em, nên tôi trả không được, c̣n đọng lại đó. C̣n tôi bảo lănh cho anh em, tôi nhớ số vốn chừng ba mươi lăm ngàn, không biết mấy năm nay người nào có trả tiền lời người nào không trả, nên khó biết chắc số thhiếu được. Năm nay tôi thấy lúa góp ít quá, nên tôi vựa mà nhóng giá, chờ lúa phát giá lên cao rồi sẽ bán đặng may đỡ cái thất chút đỉnh chăng; nào dè hôm tháng tư lúa bắt đầu sụt giá lần lần, sụt riết bây giờ c̣n hai đồng mười một tạ[3], nghĩa là không đồng bảy mươi hoặc không đồng bảy lăm một giạ[4]. Chết chưa! Lúa th́ góp ít. lại phải để ít nữa năm ngàn giạ đặng cho tá điền ăn, phải bán trên vài ngàn giạ mà đóng thuế, c̣n lại có năm sáu ngàn giạ, mà theo giá lúa nầy, th́ làm sao mà trả nợ!"
Thầy nhứt chận hỏi:
- Năm thất mùa, lúa giá rẻ, ḿnh nói với chủ nợ mà trả tiền lời, c̣n vốn để qua năm khác, không được hay sao?
- Trả nội tiền lời cũng không đủ. Mà đă hai năm rồi tôi không có trả tiền lời, chớ phải nội năm nay hay sao?
- Úy! Nếu vậy th́ trả giống ǵ nổi!
- Bởi vậy cho nên hổm nay đă có hai thằng Chà xă tri[5] nó tới đ̣i và hăm kiện. Tôi không biết tính sao cho được. Thiệt, dầu nợ tôi vay, hay là nợ tôi bảo lănh, tôi cũng không có treo đất cái ǵ hết. Mà tôi sợ hễ nó kiện đặng án rồi, nó thi hành phát măi hết ruộng đất nhà cửa của ḿnh cũng được vậy chớ, phải hay không thầy?
- Tôi không có học luật Ṭa, nên tôi không hiểu việc đó. Mà tôi thường có nghe hễ mắc nợ mà không trả, th́ tự nhiên chủ nợ kiện rồi phát măi gia sản chớ sao?
- Nguy chưa! Bây giờ biết làm sao? Tôi nói thiệt nếu họ thi hành phát măi hết gia sản của tôi th́ chắc tôi phải chết.
Thầy Hội đồng đốt đèn, làm thuốc á phiện mà hút và mời thầy nhứt nằm ngang mặt đặng nói chuyện chơi. Thầy hút ít điếu rồi thầy nói rằng:
- Tôi tính như vầy không biết được hay không?
- Thầy tính sao?
- Chà nó hăm kiện, chớ tôi chắc chưa kiện đâu. Ruộng đất của tôi không có treo hay là cầm cố cho nó chi hết. Tôi muốn kiếm người tôi làm giấy bán hết ruộng đất nhà cửa của tôi cho họ. Tôi bán tôi đóng bách phần cầu chứng hẳn ḥi rồi sang bộ cho họ đứng hết, th́ Chà nó phát măi ǵ được. Họ đứng bộ đó là họ đứng bộ giùm cho tôi, chớ không phải bán thiệt.
- Tôi sợ không được chớ. Làm như vậy th́ ḿnh gian dối quá.
- Bị vậy th́ phải kiếm thế thoát thân, dầu kế nào cũng được; nếu ái ngại th́ chết c̣n ǵ. Thầy tưởng bọn cho vay nó ở với ḿnh lại có nhơn nghĩa ǵ đó hay sao? Nó cắt họng ḿnh chết tươi. Hồi ḿnh làm ăn khá, nó thấy vậy nó đem bạc tới nhà ḿnh nó nài nỉ ḿnh vay; tại như vậy tôi mới dám mua đất Phước Long đó chớ. Bây giờ nó thấy ḿnh suy, nó tới đ̣i ngày một, hăm phát măi, hăm giam thân. C̣n bạc vay nó lấy tiền lời trước, té ra ḿnh lấy số bạc ít, mà trong giấy phải làm nhiều. Mấy năm nay tôi trả cho nó nhiều quá rồi, mà số vốn c̣n y nguyên. Nó cắt họng ḿnh, th́ ḿnh giựt lại, tôi nhắm không tội ǵ. Mà tôi tính kiếm người sang bộ đất đây, là làm đỡ cho khỏi bị phát măi, nếu sau lúa phát giá lên lại, tôi khá, th́ tôi cũng trả nợ, chớ không phải nói ngược.
- Thầy kiếm người cậy đứng bộ, ruộng đất giùm cho thầy, ví như người ta làm chủ rồi ngựi ta lấy luôn, hoặc người ta bán lại cho người khác, rồi thầy làm sao?
- Khó là khó chỗ đó đa, bởi vậy tôi bối rối không biết ai đáng tin cậy mà dám mượn.
- Tôi tưởng nếu thầy có làm như vậy th́ phải cậy anh em bà con ruột mới được, chớ đừng có cậy người dưng, họ lấy luôn rồi thầy hỏng chưn.
- Cha chả! Anh em bà con bây giờ có ai đâu, Tôi có một thằng em trai, mà nó không thuận với tôi. Hồi bà già tôi mất, nó kiện tôi mà giành gia tài. Nó thất kiện nó oán tôi từ đó tới giờ, nó có đến nhà tôi đâu. Nếu tôi mượn nó đứng bộ đất, chắc nó đoạt luôn. C̣n bên vợ của tôi, có hai đứa em trai và một đứa em gái, mà cả ba đứa đều rượu trà bài bạc vất vả, không đứa nào nên thân, tôi đâu dám tin cậy. Thiệt là khó.
- Nếu anh em ruột không được, th́ cậy bà con hoặc nhà bác, hoặc nhà chú, hoặc nhà cậu, hoặc nhà cô.
- Bà con bây giờ cũng không có người nào hết. C̣n những người quen biết thuở nay, trời ơi, ḿnh có dám tin ai đâu. Tôi thường có nói với thầy, những người họ thân thiết với tôi đó là họ làm mặt đặng họ lột da tôi, chớ có t́nh nghĩa ǵ đâu. Ở xứ nầy thiệt tôi không dám tin ai hết. Tôi nhắm lại bây giờ chỉ có một ḿnh thầy th́ đáng cho tôi tin cậy. Tôi chơi với thầy mấy tháng nay, tôi thấy rơ tánh t́nh thầy thiệt là ngay thẳng đúng đắn, không thèm dua bợ ai, việc ǵ quấy chẳng bao giờ chịu làm. Tôi nói thiệt thầy nhỏ tuổi hơn tôi nhiều, mà tôi thấy tánh t́nh thầy như vậy, th́ tôi kính phục thầy lung lắm. Tôi muốn cậy thầy làm ơn đứng bộ giùm ruộng đất nhà cửa cho tôi. Tôi sang bộ cho thầy đứng th́ tôi vững bụng, không lo ǵ hết.
- Tôi nhỏ, mà việc đó to tát quá, thiệt tôi không dám đâu.
- Có sao đâu mà sợ. Tôi làm tờ bán dứt hết ruộng đất nhà cửa cho thầy. Tiền làng thị nhận, tiền đóng bách phần tôi lo hết thảy, thầy chỉ có kư tên mà thôi, thất công có bao nhiêu đó.
Thầy nhứt Phát ngồi ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi nói rằng:
- Tôi nghĩ tôi giúp thầy việc đó không được.
- Tại sao vậy?
- Việc thầy tính đó không được ngay thẳng. Tôi vô can mà tôi xen vô rồi chịu mang tiếng coi cũng kỳ.
- Bởi thầy là anh em, tôi thấy thầy có ḷng thương tôi, nên tôi mới dám cậy thầy chớ. Tôi bây giờ chẳng khác người nào té dưới sông, bị trôi giữa ḍng nước chảy. Tôi thấy có một ḿnh thầy đứng trên bờ sông, tôi kêu thầy mà cầu cứu. Có lư nào thầy nói tại tôi dại té xuống sông chết th́ chịu, thầy không thèm cứu, rồi thầy làm lơ bỏ mà đi đành hay sao?
- Tôi thương thầy lắm. Việc thầy cậy đó không phải là khó làm, hay mà làm tốn hao ǵ của tôi. Ngặt v́ việc làm đó không chánh trực, nên tôi không khứng chớ.
- Tôi đă nói với thầy, tôi tính sang bộ ruộng đất đây, không phải tôi cướp giựt ǵ của chủ nợ đâu mà thầy sợ tôi làm ác. Nợ tôi lănh cho người ta đó, là tôi làm ơn lănh giùm, chớ tôi không có chia chác hay là ăn tiền đầu tiền đuôi ǵ đâu. C̣n số nợ riêng của tôi, để rồi tôi mở tủ lấy giấy tờ cho thầy coi. Cách tám năm nay, hồi tôi mua đất Phước Long đó, tôi thiếu bạc, tôi phải vay hai thằng Chà, một thằng ba chục ngàn, một thằng mười lăm ngàn. Trong sáu năm đầu, mỗi năm bán lúa rồi tôi trả tám ngàn cho hai thằng. Hôm trước thằng con tôi nó soạn biên lai th́ tôi cộng lại th́ hồi đó đến giờ tôi trả bốn mươi tám ngàn rồi. Mà nó tính lời mắc quá, rồi c̣n cộng chung vốn lời mà tính tiền lời nữa, thành ra tôi vay bốn mươi lăm ngàn, tôi trả được bốn mươi tám ngàn, mà bây giờ c̣n thiếu lại gần năm chục ngàn nữa, thầy coi nó cắt cổ tôi là dường nào hử. Để rồi tôi lấy giấy tờ cho thầy coi, chớ phải tôi nói láo đâu.
Thầy nhứt Phát nghe tới cái lư đó, th́ thầy hết chống cự gắt nữa, song thầy cũng không chịu hứa lời, thầy nói để thầy suy nghĩ lại; mà thầy lại khuyên phải kiếm trong ḍng bà con mà sang bộ th́ tốt hơn.
Mỗi ngày thầy Hội đồng Lợi cứ theo năn nỉ hoài, thầy nói thầy kiếm hết sức mà chẳng có một người nào đáng tin cậy, và thầy xin thầy nhứt phải cứu giùm thầy, chớ nếu dục dặc lâu ngày, rồi Chà Và thi hành phát măi hết, ắt vợ con thầy không nhà mà ở, không cơm mà ăn, không đất mà làm.
Thầy nhứt Phát tuy học giỏi, dạy hay, song thầy c̣n nhỏ, chưa lịch lăm việc điền sản. Thầy từ chối là v́ thầy thấy việc gian dối, trái với lương tâm thầy, chớ không phải thầy hiểu làm như vậy là sái luật. Mà đến chừng thầy thấy thầy Hội đồng năn nỉ quá, thầy cầm ḷng không đậu, nên thầy phải cho mượn tên đặng sang điền sản cho thầy đứng bộ giùm.
Thầy Hội đồng qua Phước Long làm tờ bán đất ở bển trước, rồi về làm tờ bán luôn nhà và ruộng đất ở Tiểu Cần cho thầy Hà Tấn Phát nữa. Hai tờ bán thị giá nhà đất hết thảy hai chỗ cộng bảy chục ngàn đồng. Hương chức Tiểu Cần thị nhận tờ, lại buộc thầy nhứt Phát phải kư tên trước mặt làng. Thầy nhứt Phát đến nhà việc, Hương hào Phúc nói chơi rằng: "Thầy nhứt làm giàu thiệt là mau, thầy dạy học mới có một năm mấy tháng mà có dư tiền đến đỗi mua tới sáu bảy muôn đồng bạc ruộng đất. Anh em Hương chức thấy hay không? Thầy nhứt không chơi bời, nên thẩy làm giàu, bọn ḿnh chơi quá, nên ḿnh mạt hết".
Thầy nhứt hiểu là lời ngạo báng nhưng thầy nghĩ thầy làm ơn cho thầy Hội đồng, th́ lương tâm thầy đủ vui rồi, ai nói ǵ mặc ai.
Thầy Hội đồng đóng bách phần cầu chứng mấy tờ mua bán, trong ít ngày có trát dạy làng phải cải bộ cho thầy Hà Tấn Phát đứng, đâu đó rành rẽ hết.
[1] một chứng bịnh của lúa lá vàng, không phát triển
[2] lúa không có hột, lúa bị lép
[3] 100 cân ta=60kg
[4] giạ=40 lít
[5] chỉ người Ấn độ chuyên nghề cho vay.
Lăng Tử
21-04-2009, 02:37 PM
Ở Theo Thời
Phần Bảy
Năm nầy lúa gạo mới bắt đầu hạ giá, cuộc kinh tế vừa mới đ́nh trệ chút đỉnh, nhưng nông công thương nghiệp chủ không dè phải mang một cái nguy lớn, nên ai nấy cứ hăng hái, thậm chí những hạng người cho vay cũng không dè thiên hạ trả nợ cũng không nổi, nên không đề pḥng, không ốp bộ đất điền của người thiếu nợ.
Thầy Hội đồng Lợi nhờ cái cơ hội ấy mà thầy sang bộ điền sản cho thầy Hà Tấn Phát đứng được khỏi bị ngăn trở. Nhưng mà hai người Chà Và chủ nợ của thầy, tên là Annouchetty và Ibrahamachetty, nhờ ai tọc mạch cho chúng nó hay không biết, mà sang bộ đất mới được vài ngày, th́ nó tới nhà thầy Hội đồng Lợi làm rầy, chúng nó mắng thầy là đồ ăn cướp và hăm sẽ nạp đơn cho quan Biện lư mà cáo thầy về tội sang đạt[1] đặng cho thầy ở tù. Chúng nó lại vào tại trường học mà kiếm thầy nhứt Phát. Ông Đốc học ngó thấy, ông giận quá, nên đuổi hai người Chà ra khỏi cửa lập tức rồi ông kêu thầy giáo nhứt vào mà quở rằng: "Thầy làm việc tồi bại quá! Thầy rước tới khách như vậy vô trường, thoảng như quan Giám đốc hay là quan Chủ quận gặp, có phải là người ta quở tới tôi nữa hay không?"
Thầy nhứt Phát biết lỗi nên ú ớ nói rằng:
- Tôi xin lỗi ông, tôi không có quen biết chi hai người Chà đó. Tôi cũng không hiểu họ kiếm tôi để làm chi.
- Thầy có vay tiền, vay bạc của chúng nó hay không?
- Thưa, không.
- Ờ, tôi biết rồi. Hai người Chà nầy là chủ nợ của Hội đồng Lợi. Tôi nghe thầy giáo nh́ nói thầy Hội đồng Lợi sang hết điền thổ cho thầy đứng bộ, thiệt có như vậy hay không?
- Thưa, có.
- Nếu vậy th́ hai người Chà nầy đi kiếm thầy đặng nói chuyện đó chớ ǵ. Thầy làm cái đó bậy lắm. Thầy với Hội đồng Lợi làm cái đó ấy là lật nợ của người ta. Nếu người ta vô đơn kiện hai người về tội sang đoạt, th́ chắc hai người bị kết án hết thảy. Làm thầy giáo th́ lo dạy học tṛ, sao lại mưu sự chi vậy? Đố thầy khỏi mang họa!
- Tôi làm phải, không lẽ trời đất để cho tôi bị hại.
- Trời ơi, thầy làm việc gian dối bằng trời, mà thầy c̣n gọi là làm phải chớ! Thôi thầy để rồi coi.
Thầy nhứt Phát v́ thương Hội đồng Lợi nên chịu giúp cho thầy mà không suy nghĩ cho kỹ. Đă biết hồi ban đầu thầy cũng hiểu là việc không ngay thẳng mà bị thầy Hội đồng Lợi năn nỉ quá, lại thẩy không thân thiết với ai, không ai chỉ giùm chỗ lợi hại bởi vậy thầy không dè làm như vậy phải mắc tội h́nh. Nay thầy nghe ông Đốc học nói mấy lời th́ thầy Phát lo, tính để tan học về rồi thầy sẽ qua kiếm thầy Hội đồng Lợi mà thương nghị.
Chẳng dè về tới nhà th́ thấy hai ngườu Chà Và đă ngồi sẵn tại nhà mà chờ thầy. Hai người Chà hỏi thầy vậy chớ làm cái ǵ có tiền bạc mà mua hết gia tài của Hội đồng Lợi. Thầy thấy làm bối rối, không biết sao mà trả lời. Thầy chỉ nói là thầy không biết, và biểu muốn nói ǵ th́ nói với Hội đồng Lợi chớ thầy không thiếu nợ mà tới nhà thầy. Hai người Chà ra cửa và nói rằng: "Anh lập thế sang đoạt của tôi mà. Tôi kiện anh ở tù".
Thầy nhứt Phát ăn ba hột cơm rồi bỏ ngủ trưa, tuốt qua nhà Hội đồng Lợi. Thầy thuật lại những lời ông Đốc học nói và mấy tiếng Chà Và hăm cho thầy Hội đồng nghe, và nói rằng:
- V́ tôi thương thầy, tôi giúp thầy mà tôi không xét kỹ. Nếu Chà Và nó kiện, Ṭa hỏi tôi làm cái ǵ có tới bảy chục ngàn đồng bạc mà mua hết ruộng đất của thầy th́ tôi trả lời sao được. Mà hễ ḿnh trả lời không được, th́ tức thị ḿnh gian, rồi Ṭa buộc ḿnh về tội sang đoạt. Tôi giúp cho thầy mà tôi phải bị án thiệt là đau lắm!
- Có sao đâu mà lo. Tiền bạc ḿnh có bao nhiêu, ḿnh cần ǵ phải khai cho ai biết. Có lư nào Ṭa hỏi kỳ như vậy. Nói cùng mà nghe, ví như nó kiện mà ḿnh thất, th́ bất quá Ṭa hủy bỏ tờ mua của thầy rồi đem ruộng đất ra phát măi, chớ chuyện ǵ th́ phải ở tù. Thầy đừng lo. Tôi có quen bên Ṭa nhiều. Để chiều nay tôi qua tôi hỏi mấy thầy ở bển coi phải lập thế làm sao mà chống cự với nó. Chuyện nầy để tôi lo cho. Thầy giúp giùm cho tôi, có lư nào tôi để cho thầy bị hại hay sao mà thầy sợ.
- Phải lo làm sao, chớ đừng có để lôi thôi chết tôi đa nghé.
- Để cho tôi lo cho mà.
Tuy thầy Hội đồng Lợi nói cứng cỏi như vậy, nhưng thầy nhứt Phát cũng không an tâm. Thầy đi dạy học mà trong trí thầy lo, trong bụng thầy buồn lung lắm. Vô đến trường thầy thấy mấy thầy giáo hễ ngó thấy thầy th́ họ nói nhỏ xầm x́ với nhau. Thầy thấy làm phiền cho thói đời, sao người ta có chuyện buồn rầu đă không biết thương xót, hoặc giúp đỡ lời nói, mà lại c̣n dị nghị cười chê.
Cách chừng nữa tháng, thầy nhứt Phát được trát của quan Thẩm án Ṭa Trà Vinh đ̣i hầu. Thầy biết chắc Chà Và đă nạp đơn đầu cáo rồi, nên lật đật chạy qua nhà thầy hội đồng Lợi cho hay, thầy hội đồng Lợi nói: "Phải Chà Và kiện rồi, tôi hay trước hổm nay, song tôi sợ thầy buồn, nên tôi không dám nói. Tôi cũng có được trát Ṭa đ̣i hầu như thầy vậy. Để bữa đó rồi hai anh em ḿnh đi hầu một lượt với nhau. Tôi có hỏi thăm mấy thầy bên Ṭa th́ họ nói bên Chà Và kiện không đủ chứng cớ. Chúng nó cho người ta vay, chúng nó dại không buộc người ta treo đất, mà rồi cũng không chụp bộ trước, để cho người ta bán đất th́ chúng nó chịu, chớ kiện cái ǵ. Tuy nói vậy, mà để bữa hầu coi Ṭa định thế nào; nếu có ṃi trắc trở th́ tôi tuốt lên Vĩnh Long mời trạng sư xuống bào chữa luôn cho hai anh em ḿnh, không có sao đâu mà thầy sợ".
Gần tới ngày hầu, thầy nhứt tŕnh cho ông Đốc mà xin phép đi hầu Ṭa. Ông Đốc chắt lưỡi lắc đầu mà nói rằng: "Thầy coi hôm trước tôi nói đó trúng hay không hử? Chuyện nầy khó lắm, chớ không phải chơi đâu. Trong trường có tôi làm đầu. Thầy muốn làm việc ǵ sao không hỏi tôi. Chớ phải thầy cho tôi hay th́ tôi cản, tôi có để cho thầy làm bậy như vậy đâu. Thầy nói thầy thương Hội đồng Lợi nên thầy cho mượn tên đặng sang bộ đất thầy đứng giùm cho va[2]. Bây giờ đổ bể ra thầy nói như vậy ai mà tin. Tôi chắc bề nào Ṭa cũng nói thầy a ư với Hội đồng Lợi mà lật nợ của Chà Và rồi Ṭa buộc hết hai người về tội sang đoạt. Thầy làm chuyện đó thiệt là kỳ quá! Thằng cha Hội đồng Lợi là bợm hút xách, hồi trước có tiền nên lo làm Hội đồng, chớ có ra ǵ đâu. Thầy coi trong làng nầy có ai mà ưa va. Không biết tại sao mà thầy nghe lời va, đi làm chuyện như vậy. Thôi, thầy cứ đi hầu coi Ṭa dạy lẽ nào".
Thiệt đến bữa hầu, Hội đồng Lợi qua kêu thầy nhứt Phát đi, mà lại có dắt vợ theo nữa.
Quan Thẩm án kêu Hội đồng vô trước rồi mới kêu tới thầy nhứt. Ngài hỏi mỗi người và lấy khai. V́ lúc đi dọc đường vợ chồng Hội đồng Lợi cứ theo năn nỉ xin thầy nhứt phải khai quả quyết thầy mua ruộng đất đó, chớ không phải cho mượn tên đứng bộ giùm, mà thầy nhứt cũng sợ nếu nói ḿnh cho mượn tên đặng sang bộ, té ra ḿnh gian, bởi vậy Ṭa hỏi th́ thầy khai quyết rằng mua gia sản của Hội đồng Lợi. Ṭa hỏi thầy làm thầy giáo mỗi tháng lănh lương có mấy chục đồng bạc, lại mới làm thầy giáo vừa hơn một năm, thầy làm sao có tới số bạc bảy chục ngàn mà mua nhà cửa ruộng đất. Thầy ú ớ một hồi rồi khai rằng ấy là bạc của anh thầy là Hà Tấn Tài ở Sài G̣n, cho thầy vay mà mua đó.
Quan Thẩm án lấy khai xong rồi ngài mới phán rằng Bành Đại Lợi với Hà Tấn Phát bị phạm tội sang đoạt người thứ nhứt là chánh phạm, người thứ nh́ là đồng lơa. Lẽ th́ ngài phải giam hết hai người nhưng xét v́ một người là điền chủ lớn, c̣n một người là viên dịch của nhà nước, cả hai đều có gia trụ, vậy ngài cho tại ngoại hầu tra, song không được phép đi đâu xa, hễ có trát đ̣i th́ phải đi hầu.
Thầy Hội đồng với thầy nhứt bước ra khỏi Ṭa đều đổ mồ hôi. Thầy Hội đồng thuật các lời của Ṭa hỏi lại cho vợ nghe, th́ bà vợ nhứt định phải đi mướn trạng sư. Vợ chồng Hội đồng đi luôn lên Vĩnh Long, c̣n thầy nhứt th́ phải trở về Tiểu Cần, mặt buồn hiu.
Cách ít ngày, có trát Ṭa qua làng mà hỏi tánh hạnh và tài sản của thầy nhứt Phát. Làng lấy sự thiệt mà trả lời, làng nói thầy Hà Tấn Phát làm thầy giáo th́ mẫn cán, song ít kiêng nể tổng làng, c̣n tài sản của thầy th́ ngoại trừ số ruộng đất nhà cửa thầy mua của Bành Đại Lợi, thầy mỗi tháng có lănh mấy chục đồng bạc lương, chớ chẳng có huê lợi chi khác.
Thầy nhứt Phát lo sợ, ăn ngủ không được. Thầy tính viết thơ mà tỏ công việc nầy cho anh là Hà Tấn Tài hay, mà v́ vợ chồng ông Hội đồng Lợi đi Vĩnh Long về nói đă mướn trạng sư tám trăm đồng và trạng sư đă hứa sẽ làm cho hai người khỏi tội ǵ hết. Đă vậy mà thầy nghĩ việc ḿnh làm ḿnh chẳng cố tâm làm quấy, không lẽ nào Ṭa phạt ḿnh, nếu ḿnh cho anh hay th́ ḿnh làm bận ḷng anh chớ không ích chi, bởi vậy thầy tính viết thơ mà rồi thầy không viết.
Cách mười ngày sau, có nghị định của quan trên gởi cho ông Đốc học trường Tiểu Cần dạy phải truyền rao cho thầy giáo Hà Tấn Phát hay rằng v́ thầy bị Ṭa buộc về tội sang đoạt, nên quan trên định ngưng chức thầy, đợi chừng nào Ṭa xử xong rồi sẽ định đạt. Ông Đốc học truyền rao rồi ông nói thêm rằng: "Tôi nói quả hôn hả? Chuyện thầy làm đó khó lắm mà. Thôi bây giờ thầy phải giao đồ mà về ở nhà, chớ kể từ ngày nay c̣n lương bỗng nữa ǵ đâu mà dạy. Thầy báo quá, bây giờ tôi phải lên dạy lớp nhứt, chớ biết làm sao".
Thầy giáo Phát nghe được tin nầy chẳng khác nào thầy bị sét đánh ngay ḿnh, mắt đổ hào quang, lỗ tai lùng bùng. Thầy giao sách vở lại cho ông Đốc, không nói được một tiếng. Giao việc vừa xong, kế tới giờ cho học tṛ ra chơi. Thầy nhơn dịp ấy bắt tay từ giă mấy thầy giáo mà về liền.
Thầy bước ra đường thầy lấy làm hổ thẹn, lầm lũi đi riết về nhà, không dám ngó ai hết. Về đến nhà thầy nằm dài trên ghế bố, nước mắt tuôn dầm dề. Bây giờ biết tính làm sao? Chắc là phải bị án, mà hễ bị án, th́ mất chức chẳng nói làm chi, lại c̣n bị ở tù nữa mới khổ! Trời ôi! Bước chơn vào đường đời, chí dốc làm việc phải, đi đường ngay. Cái phải, cái ngay đó, tự nhiên kết quả như vậy hay sao? Phải viết thơ cho anh hay mới được. Cha chả! Mà viết thơ bây giờ nói làm sao? Hồi nào ḿnh hứa ḿnh sẽ ǵn giữ thân danh, ḿnh chẳng để hổ lương tâm đặng đền bồi cái công nuôi dưỡng ăn học. Bây giờ ḿnh làm đến nỗi bị Ṭa buộc tội sang đoạt, đến nỗi bị quan trên ngưng chức, ḿnh đă phụ ḷng anh chị, ḿnh đă làm nhục tông môn, lẽ th́ ḿnh chết phức cho rồi, c̣n mặt mũi nào mà viết thơ cho anh nữa. Thôi, khoan viết thơ cho anh, để qua cho vợ chồng Hội đồng Lợi hay coi thầy tính lẽ nào đă.
Thầy giáo Phát rửa mặt rồi qua nhà thầy Hội đồng Lợi. Thầy tỏ việc thầy mới được giấy ngưng chức. Thầy Hội đồng nghe nói th́ chắt lưỡi mắt rưng rưng mà nói rằng: "Thầy muốn cứu tôi mà thầy phải bị hại, thiệt tôi buồn quá. Tôi không dè chuyện trở ra lại khó như vậy, phải mà tôi biết, tôi có dám đâu".
Vợ chồng Hội đồng Lợi tiếp nói rằng: "Thầy nhứt nè, ông trạng sư ổng nói chắc lắm. Trước mặt hai vợ chồng tôi, ổng nói việc chẳng khó, hễ ổng căi th́ Ṭa tha bổng hết. Thiệt thầy bị ngưng chức, th́ vợ chồng tôi hết sức buồn. Song tôi xin thầy chớ phiền, để cho vợ chồng tôi lo. Thầy làm ơn lẽ nào vợ chồng tôi để cho thầy bị án hay sao. Để tôi nói cái nầy cho thầy nghe: nếu Ṭa mà kêu án thầy với nhà tôi về tội sang đoạt th́ tự nhiên mấy cái tờ mua bán đất ấy đều giả hết. Mà hễ tờ ấy giả, th́ Ṭa phải hủy bỏ, rồi đem bộ ruộng đất lại cho ở nhà tôi đứng cho Chà Và nó thi hành phát măi c̣n ǵ. Vậy vợ chồng tôi phải lo lắm, chớ dám buông đâu mà thầy sợ. Để sáng mai vợ chồng tôi qua Trà Vinh mà hỏi dọ lại coi, nếu việc không xong th́ tôi mướn thêm một ông trạng sư nữa. Bề nào tôi cũng hết nhà cửa hết ruộng đất. Vậy tốn hao bao nhiêu vợ chồng tôi cũng phải lo, chớ đâu dám lôi thôi".
Thầy giáo Phát nghe vợ Hội đồng Lợi nói có lư, nên thầy an tâm mà về. Thầy ở nhà mấy bữa mà chờ trát Ṭa đ̣i hầu. Những người quen biết chẳng có một ai tới thăm, mà có bữa thầy ra đường gặp họ th́ họ day mặt đi chỗ khác, không thèm chào hỏi. Thầy đă buồn việc nhà của thầy, mà thầy thấy nhơn t́nh đen bạc dường ấy thầy càng buồn hơn nữa. Thầy viết thơ cho anh hai ba lần, mà lần nào cũng vậy, hễ tối viết rồi sáng thầy xé, không dám gởi.
Thầy buồn rầu quá, mà đợi hoài không thấy Ṭa đ̣i hầu. Thầy bèn nhứt định trở về Sài G̣n tỏ thiệt đầu đuôi mọi việc cho anh chị hay, thà là nói trước đặng sau anh chị khỏi phiền trách.
Thầy mới tính như vậy kế tiếp được thơ của Hà Tấn Tài nói rằng, người có nghe một thầy giáo tùng sự ở Học chánh cho hay Hà Tấn Phát, v́ có Ṭa buộc tội sang đoạt sao đó, nên bị ngưng chức, vậy người biểu Phát nếu thiệt có như vậy, th́ phải về lập tức đặng tỏ hết công chuyện cho người hiểu.
Thầy giáo Phát được thơ th́ thấy không c̣n dụ dự ǵ nữa. Thầy qua nhà Hội đồng Lợi mà cho hay rằng thầy phải đi Sài G̣n, và dặn ḍ hễ có trát Ṭa đ̣i th́ phải đánh dây thép cho thầy hay đặng thầy xuống cho kịp hầu. Thầy có viết địa chỉ của thầy trên Sài G̣n rơ ràng mà để lại đặng biết chỗ mà đánh dây thép.
Vợ chồng Hội đồng Lợi nói cho thầy hay rằng đă có mướn thêm một ông trạng sư nữa rồi, mướn tới một ngàn rưỡi mà mới chồng bạc một ngàn, đặng ổng căi giúp việc h́nh rồi căi luôn việc hộ nữa, v́ Chà Và đă vô đơn tại Ṭa Hộ mà xin hủy tờ mua bán tài sản của vợ chồng Hội đồng Lợi kư tên.
Thầy giáo Phát về Sài G̣n, đi dọc đường thầy buồn hiu, thầm tính nếu bị Ṭa kêu án và bị mất chức, th́ thầy phải tự vận mà chết cho rồi, v́ sống như vầy càng nhục càng buồn, chớ không ích ǵ.
Xe hơi lên tới Sài G̣n hồi hai giờ rưỡi chiều. Thầy giáo Phát biết giờ ấy anh đă đi làm việc, nên thả chơi ngoài chợ đến sáu giờ tối mới về nhà anh. Thầy chắc về sẽ bị quở trách nặng; té ra bước vô nhà anh th́ anh chị đều mừng rỡ, hối bồi bếp lo dọn cơm, chớ không hỏi tới chuyện Ṭa buộc tội và chuyện ngưng chức. Cơm nước xong rồi, vợ chồng Hà Tấn Tài nhắc ghế ra ngồi trước hàng ba mà hứng mát, chừng ấy mới kêu thầy giáo Phát mà biểu thuật chuyện dưới Tiểu Cần cho ḿnh nghe.
Thầy giáo Phát mới khóc mà kể hết đầu đuôi mọi việc, kể chuyện ḿnh không chịu chơi bời, thành ra không hiệp ư thiên hạ, nên thiên hạ ghét, kể chuyện thầy Cai tổng binh con làm bẽ mặt ḿnh tại lớp học, mà ông đốc lại v́ thầy Cai mà cho ḿnh quấy, kể chuyện ḿnh lân la chơi với Hội đồng Lợi, sau bị Hội đồng Lợi năn nỉ quá, cầm ḷng không đậu, nên chịu kư tên mua giùm hết thảy ruộng đất nhà cửa của Hội đồng Lợi giá là bảy chục ngàn, mới bị Chà Và kiện, rồi Ṭa buộc tội ăn ư với Lợi mà sang đoạt điền thổ. C̣n việc ḿnh bị ngưng chức, ấy là tại ḿnh làm việc nhà nước mà bị Ṭa buộc tội, nên nhà nước phải làm như vậy đặng ḿnh thong thả mà đi hầu Ṭa, nếu Ṭa xử ḿnh trắng án th́ nhà nước sẽ cho phục chức lại, c̣n nếu ḿnh bị án th́ nhà nước sẽ cách chức.
Thầy giáo Phát kể đủ mọi việc rồi thầy khóc mà nói rằng: "Công chuyện như vậy đó mà em không cho anh chị hay, ấy là em sợ anh chị buồn, chớ không phải làm việc chi quấy nên em giấu. Em nghĩ thiệt cái mạng em vô phước lắm, ở đời em giữ ǵn từ chút, không dám làm một mảy nào quấy, mà thiên hạ lại không ưa, em làm ơn cho người ta mà em phải mang họa. Cái công ơn anh chị nuôi em ăn học ngày nay trở ra vô ích, em nghĩ tới em hổ thẹn với anh chị không biết chừng nào".
Thầy Hà Tấn Tài ngồi hút thuốc mà suy nghĩ một lát mà thầy nói rằng:
- Người ta không ưa em đó, nghĩ chẳng lạ ǵ. Đời nầy thiên hạ xảo quyệt lắm, tại em ăn ở thiệt thà quá, làm sao mà người ưa được. Mà dầu người ta thương hay là ghét, việc đó chẳng quan hệ ǵ, họ thương họ cũng không sớt của cho em, mà họ ghét họ cũng không làm chi em được. Bây giờ chỉ lo cái vụ Ṭa buộc em đây, phải làm sao vẫy vùng cho khỏi án. Hễ Ṭa xử em trắng án, th́ tự nhiên em được phục chức, mà c̣n được làm chủ những tài sản của người ta bán cho em nữa. Để anh hỏi thăm việc ấy cho rành, rồi anh sẽ lập thế mà cứu em. Em phải nói cho thiệt, thầy Hội đồng Lợi làm tờ bán cho em những vật ǵ giá bao nhiêu?
- Thưa, thẩy bán cho em năm trăm mẫu ruộng ở Phước Long giá bốn chục ngàn đồng, một trăm năm mươi mẫu ruộng giá hai bảy ngàn đồng, nhà cửa tài vật ở Tiểu Cần giá ba ngàn đồng cộng chung bảy chục ngàn đồng
- Giấy làm tờ cách nào? Có làng thị nhận, có đóng bách phần, có cải bộ rồi hay chưa?
- Tờ làm theo kiểu tờ duyệt măi điền sản thuở nay, ruộng Phước Long làm riêng một tờ, ruộng và nhà đất làm riêng một tờ khác. Hai tờ đều có làng thị nhận, có đóng bách phần và có trát dạy làng cải bộ cho nên tên họ em đứng rành rẽ.
- Em có đem tờ về, th́ đưa cho qua xem thử coi.
- Thưa em đứng bộ giùm cho người ta, nên tờ người ta giữ, em có lấy làm chi.
- Không hại ǵ, để qua gởi đơn xin sao lục cũng được. Vậy mà em có làm tờ riêng cho Hội đồng Lợi cầm, nói rằng đứng bộ đó là đứng giùm hay không?
- Thưa em tính làm mà chưa kịp làm, kế Chà Và kiện.
- Chắc như vậy hay không? Phải nói cho thiệt.
- Thưa, chắc. Thầy hội đồng Lợi không có buộc, nên em không có làm tờ ǵ cho thầy cầm hết.
- Vậy th́ tốt lắm. Từ rày sắp lên em đừng có viết thơ mà cũng đừng có làm tờ ǵ cho Hội đồng Lợi mà nói đứng bộ giùm đa, nghe hôn.
- Dạ.
- Ṭa đă có đ̣i hỏi em hầu rồi, vậy Ṭa hỏi, em trả lời làm sao?
- Ṭa hỏi thiệt em mua tài sản ấy hay là đứng bộ giùm. Em khai em mua thiệt. Ṭa hỏi em làm ǵ có tới bảy chục ngàn đồng bạc mà mua ruộng đất đó. Em túng quá, nên khai bướng rằng em vay bạc của anh mà mua.
- Em khai như vậy sao?
- Thưa, phải.
- Tốt lắm, tốt lắm. Em cứ khai như vậy hoài đi. Để rồi em làm cho qua cầm một cái giấy vay bạc của qua tám chục ngàn đồng. Giấy phải đề ngày theo lúc em mua ruộng đất đó. Nếu Ṭa có đ̣i th́ qua làm chứng cho và qua tŕnh giấy vay cho Ṭa xét. Vậy mà em có mướn trạng sư căi giúp hay không?
- Thưa, phận em th́ em không có mướn, nhưng mà thầy Hội đồng Lợi sợ mắc án rồi ở tù, lại c̣n bị Chà Và lấy ruộng đất lại mà thi hành phát măi, bởi vật thẩy mướn tới hai ông trạng sư căi giúp, tốn tới mấy ngàn đồng bạc.
- Được lắm. Trong vụ nầy, chỗ bí yếu là em làm ǵ có bảy chục ngàn đồng bạc mà mua ruộng đất. Trạng sư tự nhiên họ thấy chỗ đó, thế nào họ cũng nài nỉ anh làm chứng. Anh thấy em có chỗ giăy khỏi được rồi.
- Em sợ Ṭa nghi anh em ḿnh a ư làm chứng vị, làm tờ giả, rồi Ṭa không tin chớ.
- Ḿnh có bằng cớ rơ ràng, dầu có nghi cũng không bỏ bằng cớ ấy được. Em đừng lo đừng buồn chi hết. Em làm giấy nợ sẵn cho anh cầm, chừng Ṭa đ̣i hầu cứ khai vay bạc của anh. Anh làm chứng tŕnh giấy nợ rành rẽ th́ Ṭa cũng khó mà làm án em được.
Thầy giáo Phát thấy anh không quở phạt mà lại c̣n dạy khôn dại cho ḿnh nữa, th́ thầy bớt lo sợ bèn làm giấy vay tám chục ngàn đồng mà giao cho anh cầm. Thầy nghĩ ở Tiểu Cần thiên hạ không ai thương ḿnh, trở xuống đó càng buồn chớ không có ích ǵ, bởi vậy thầy viết thơ cậy Hội đồng Lợi trả giùm phố của thầy mướn, và dặn hăy có trát đ̣i hầu th́ phải đánh dây thép cho thầy hay, rồi thầy ở luôn trên Sài G̣n, không xuống Tiểu Cần nữa.
[1] đọat
[2] đại danh từ ngôi thứ ba, chỉ người vắng mặt ngang vai hoặc lớn tuổi hơn.
Lăng Tử
21-04-2009, 02:38 PM
Ở Theo Thời
Phần Tám
Đến ngày ṭa xử, thầy giáo Phát xuống trước một bữa ở tại Trà Vinh mà chờ. Tuy thầy Hà Tấn Tài đă dặn ḍ mọi việc và biểu đừng sợ, nhưng mà thầy giáo Phát cũng lo hết sức, nên mặt mày buồn hiu. Thầy gặp vợ chồng Hội đồng đi hầu, hai ông bà ngoài miệng th́ vẫn nói cứng như thường, mà nét mặt coi cũng lo lung lắm.
Chừng Ṭa kêu mà xử, th́ thầy giáo Phát cứ khai ḿnh vay bạc của anh ḿnh là Hà Tấn Phát để mua ruộng đất nhà cửa đó; hai ông trạng sư cũng căi lời, mỗi ông luận biện trót một giờ đồng hồ nhưng mà chừng Ṭa lên án, th́ ṭa phạt Bành Đại Lợi một năm tù và phạt Hà Tấn Phát sáu tháng tù v́ tội sang đoạt.
Thầy giáo Phát nghe Ṭa đọc án phạt thầy th́ thầy tá hỏa hai con mắt, mồ hôi tuôn ướt áo. C̣n thầy Hội đồng Lợi th́ lúc thầy bước ra khỏi cửa Ṭa thầy té xỉu, vợ thầy lật đật mướn xe hơi chở về Tiểu Cần liền.
Thầy giáo Phát bối rối hết sức, bỏ ăn bữa cơm trưa cứ đi thơ thẩn ngoài đường. Đến xế th́ thầy mới đánh một cái dây thép cho anh hay rằng ḿnh đă bị Ṭa kêu án sáu tháng tù, và hỏi anh coi bây giờ phải làm sao. Ở Trà Vinh mà chờ anh trả lời th́ bực bội quá chịu không được, bởi vậy thầy đi chuyến xe chiều mà qua Tiểu Cần, trước là thăm Hội đồng Lợi, sau nữa hỏi coi vợ chồng tính lẻ nào.
Vợ chồng Hội đồng Lợi thấy thầy giáo Phát th́ khóc ̣a: "Tôi thiếu nợ người ta, tôi lập mưu để chủ nợ không thi hành phát măi ruộng đất tôi được, th́ Ṭa bỏ tù tôi đă đành. Tội nghiệp cho thầy, v́ thương tôi nên muốn cứu vớt tôi, mà thầy phải liên lụy, thiệt vợ chồng tôi buồn hết sức. Chẳng giấu ǵ thầy, v́ cái kiện nầy mà mấy tháng nay tôi tốn hao lung quá. Bây giờ trong nhà bạc tiền đă hết, mà lúa cũng sạch trơn, tôi biết làm sao. Thầy cũng thấy tôi lo hết ḷng, chớ phải tôi bỏ trôi đâu. Tại cái mạng tôi phải tán gia bại sản, mà c̣n phải ở tù nữa, thôi đành bó tay mà chịu, xin thầy coi có phương thế ǵ gỡ khỏi phận thầy, th́ thầy làm đi, chớ thiệt tôi tận kế rồi, chỉ đợi chúng bắt đi ở tù rồi chết".
Thầy giáo Phát nghe Hội đồng Lợi nói xuôi xị th́ thầy thối chí ngă ḷng. Thầy ngồi khóc rấm rứt, thấy cảnh tù rạc trước mắt, nhớ việc mất chức xấu hổ, tiếc công phu ăn học, ngày nay tan ră như bọt nước, giữ tánh t́nh ngay thẳng, rốt cuộc rồi chẳng ích ǵ. Vợ thầy Hội đồng Lợi thấy thầy buồn rầu quá mới nói rằng: "Xin thầy nhứt chớ buồn, phải tĩnh trí mà lo. Vợ chông tôi nói thiệt, nếu thầy lo phá cái án Ṭa đó được, th́ vợ chồng tôi cho luôn hết ruộng đất đó mà hưởng đời đời, đặng bù lại cái hại của vợ chồng tôi làm cho thầy phải mang, chớ vợ chồng tôi không nỡ đ̣i lại đâu, lời tôi nói đây là lời chắc chắn, chớ không phải môi miếng, Thầy nghĩ đó coi, nếu thầy trả lại th́ chủ nợ họ cũng thi hành, chớ vợ chồng tôi ăn uống ǵ được".
Mấy lời nói ấy tuy thật, nhưng mà có xảo. Thầy giáo Phát nghe mà không để ư đến. C̣n thầy Hội đồng Lợi nghe th́ cảm, lật đật đi mở tủ sắt lấy hai bổn tờ bán gia viên điền sản đó mà đưa cho thầy giáo Phát mà nói rằng: "Lời vợ tôi nói đó phải lắm. Bề nào gia tài tôi cũng phải tiêu. Vậy thà là tôi cho thầy đặng đền ơn cho thầy hơn là để cho Chà Và phát măi, thầy giữ lấy hai bổn tờ mua đó đi. Để tôi làm thêm một bổn tờ nữa cho chắc chắn".
Thầy Hội đồng Lợi lấy giấy mà viết một tờ như vầy: "Chúng tôi là Bành Đại Lợi và vợ là Lư Thị Phúc đứng tờ nầy chứng chắc rằng những ruộng đất nhà cửa của chúng tôi tại Tiểu Cần và tại Phước Long mà chúng tồi đă làm tờ bán cho thầy giáo Phát đó là bán thiệt. Chớ không phải mượn thầy sang tên đứng bộ giùm. Vậy con cháu chúng tôi ngày sau không được kêu nài chi hết".
Thầy viết rồi thầy kư tên, lại biểu vợ con đồng kư tên vào đó hết thảy, người nào không biết kư tên th́ lăn tay làm dấu. Thầy giáo nghĩ việc ở tù đă thấy trước mắt, c̣n sự nghiệp của Hội đồng Lợi th́ nay mai sẽ thi hành Phát măi, vợ chồng làm màu mè cho ḿnh mát ruột, chớ không ích ǵ, bởi vậy thầy từ chối không chịu lấy mấy tờ, Hội đồng Lợi cứ theo nài ép, xếp tờ mà bỏ đại vào túi thầy giáo.
Sáng bữa sau, thầy giáo Phát trở qua Trà Vinh tiếp được dây thép của Hà Tấn Tài biểu phải vào đơn tại Ṭa mà xin chống án rồi về Sài G̣n liền. Thầy làm y theo lời anh dạy lên xe hơi mà về Sài G̣n.
Thầy giáo đọc hết việc ṭa xử cho anh chị nghe, lại đưa các giấy của Hội đồng Lợi giao đó cho anh chị coi nữa.
Hà Tấn Tài ngồi đọc từ tờ, xét từ câu rồi suy nghĩ lâu lắm. Thầy suy xét kỹ lưỡng rồi thầy mới nói rằng: "Vụ nầy là một vụ lớn. Gia tài nầy giá trên mười muôn đồng bạc chớ không phải ít đâu. Nếu em chống cự làm cho khỏi bị Ṭa lên án hủy tờ bán của vợ chồng Bành Đại Lợi làm đây, th́ em hưởng trọn cái gia tài đó, em trở nên một người cự phú chớ không phải chơi. Nếu phải tốn hao năm mười ngàn mà được việc, th́ cũng nên tốn, có đâu mà sợ. Vậy mà em có biết Bành Đại Lợi thiếu nợ Chà và bao nhiêu và c̣n thiếu ai nữa hay không?"
Thầy giáo Phát đáp rằng:
- Em nhớ Hội đồng Lợi có nói thiếu hai người Chà đứng kiện gần năm chục ngàn vốn và lời. Thầy c̣n lănh nợ giùm cho anh em số vốn lời lối ba mươi lăm ngàn nữa.
- Nhiều quá! Chớ chi thầy thiếu nội hai người Chà nầy và thiếu ít ít, th́ qua lập thế nói với nó mà trả mớ nhấm, trả chừng đôi ba chục ngàn, rồi xin nó băi nại; mà theo như lời em nói đó, th́ tính như vậy không được. Thiếu nó tới năm chục ngàn, mà bây giờ nó thấy ḿnh bị án, nó đắc thế quá, nay mai ǵ đây hễ Ṭa trên y án, nói sự mua bán đó là giả dối, th́ tự nhiên Ṭa Hộ lên án hủy tờ mua bán, rồi nó thi hành phát măi ruộng đất lấy số nợ lại đủ, có cần ǵ phải bàn tính với ḿnh. Ví dầu tính yên với bọn Chà nầy, th́ c̣n chủ nợ khác nữa họ ra họ kiện, hơi đâu ḿnh tính, nếu ḿnh trả nợ hết thảy cho mọi người đặng lấy gia tài đó cho êm, th́ chẳng khác nào ḿnh mua, mà lại mua mắc, không ích ǵ.
Hà Tấn Tài ngồi suy nghĩ một hồi nữa rồi nói: "Không biết chừng em ở phải, bụng em tốt, nên ngày nay Trời Phật sắp đặt mà thưởng em. Đă biết bây giờ em bị án, mà ở đời thường thấy có nhiều việc tiền hung hậu kiết, có sao đâu mà sợ. Thôi, để mai hỏi thăm xem coi ông trạng sư nào giỏi qua đến nói chuyện với ổng thử coi. Theo ư qua th́ chắc được".
Bữa sau, Hà Tấn Tài xin phép nghỉ buổi chiều đặng đi lo giùm việc của em. Đến bảy giờ tối thầy mới về. Vô tới cửa thầy gặp đứa con nhỏ thầy bồng mà nựng; khí sắc hân hoan lắm. Chừng ăn cơm thầy mới nói với vợ và em rằng: "Qua hỏi thăm th́ ở Sài G̣n nầy có ông trạng sư Francois tài lắm, nhứt là ổng giỏi về việc hộ. Qua đến, qua nói hết công việc cho ổng nghe, đưa giấy tờ cho ổng coi, cái giấy nợ của em làm thiếu qua tám chục ngàn đồng và cái tờ của con cái Bành Đại Lợi làm thêm cho em cầm đó, qua cũng đưa hết cho ổng coi nữa. Ông xét kỹ lưỡng rồi ổng chịu lănh căi vụ h́nh em đương chống án và căi luôn vụ hộ mà Chà Và xin hủy tờ mua bán đó nữa. Ổng nói mười phần kể chắc được kiện tới tám, chín phần. Vái Trời Phật cho y như lời ổng nói đó, chừng nào Ṭa Phúc án mà xử y án Ṭa sơ, th́ em mới bị mất chức, c̣n như Ṭa Phúc án mà tha bổng em, tự nhiên em sẽ được phục chức lại. Vậy th́ em cứ ở nhà đi chơi đừng lo ǵ hết. Nếu Trời Phật giúp vận th́ em bỏ chức thầy giáo mà lănh chức điền chủ càng khỏe hơn nữa".
Thầy giáo Phát nghe anh nói mạnh mẽ quá, th́ thầy vững bụng chút đỉnh nên thầy bớt buồn.
Mỗi ngày Hà Tấn Tài đi làm việc, th́ Hà Tấn Phát cứ ở nhà đọc sách hoài. Vợ chồng Hà Tấn Tài sợ em buồn rầu, nên theo khuyên dỗ biểu phải đi chơi. Thầy giáo Phát không nghe lời, Hà Tấn Tài mới nói rằng: "Em phải đi chơi chớ, đi chơi đặng quan sát cái hay cái dở của cuộc đời, cái dại cái khôn của con người; đi chơi đặng thấu đáo nhơn t́nh, đặng khảo cứu phong tục. Đi chơi có phải là hư đâu, nên hư tự ḿnh chớ. Tại em đọc sách hoài, không chịu đi chơi, rồi em cư xử theo sách, chớ không cư xử theo đời, nên ở dưới Tiểu Cần em mới không hiệp ư với ai hết đó. Em phải nghe lời qua. Học xong rồi bây giờ phải hành, mà hành th́ phải theo đời, chớ đừng có theo sách nữa".
Thầy giáo Phát nghe lời khuyên chí lư như vậy, thầy mới chịu phục, nên từ nầy thầy mới bắt đầu đi chơi.
*
Một buổi sớm mơi thầy giáo ăn lót ḷng với Hà Tấn Tài rồi thầy đi qua Bến Thành mà chơi. Thầy đi ṿng theo chợ mới, vừa đi ngang một tiệm cà phê th́ nghe trong tiệm có tiếng kêu chỉ danh thầy. Thầy đứng lại ngó vô th́ thấy trong tiệm đông dày dày. Tại một cái bàn giữa, có tiếng kêu lên tên thầy nữa. Thầy ngó kỹ chỗ đó th́ thấy Cao Lương Kư là anh em bạn học với thầy, đương ngồi ăn uống. Thầy bước vô, hai người chào mừng nhau. Thầy Kư mời thầy Phát ăn lót ḷng. Thầy nói đă dùng ở nhà rồi, song muốn vừa ḷng người bạn, nên kêu đem một ly cà phê đặng ngồi uống nói chuyện chơi.
Lăng Tử
21-04-2009, 02:39 PM
Hai người nói chuyện nhau một hồi, thầy Phát mới hay thầy Kư tuy hồi ra trường thầy thi rớt, nhưng mà bây giờ thầy làm việc trong một hăng buôn lớn, ăn lương mỗi tháng tới một trăm hai chục đồng và mướn phố ở đường Thuận Kiều. Thầy Kư ăn hủ tiếu, thầy vớt thịt với hủ tiếu ăn hết, chỉ c̣n một mớ giá với nước rồi xô cái tô qua một bên mà uống cà phê. Cái tô hủ tiếu vừa mới trịch qua, th́ có một người trai và một đứa nhỏ đứng hờm hồi nào gần đó không biết, áp lại giành bưng cái tô. Người trai giành được bèn kê cái tô vô miệng mà húp nước hủ tiếu rồn rột, rồi lại lấy đũa và mớ giá mà nuốt nữa. Đứa nhỏ giành không lại, th́ đứng ngó lườm lườm, coi bộ tức giận lắm. Thầy Phát thấy vậy mới móc túi lấy một đồng xu mà cho thằng nhỏ. Thằng nhỏ chưa kịp tạ ơn, bỗng thấy cái bàn gần đó có người đứng dậy đi, mà bỏ ly cà phê c̣n dư bộn, nó chụp lấy đồng xu rồi vói bưng ly cà phê dư mà uống ọt ọt.
Thầy Phát thấy lúc con người đến lúc nghèo, tấm thân phải hèn hạ đến thế, th́ trong ḷng thầy không vui chút nào. Thầy Kư mời thầy tối qua nhà chơi, đặng có nhiều giờ mà đàm đạo, chớ bây giờ thầy mắc đi làm việc.
Anh em phân rẽ nhau. Thầy Phát thủng thẳng đi tới bến xe hơi, thấy có hai người lơ[1] đương giành một người hành khách, ban đầu căi cọ, lần lần tới chửi lộn, riết rồi đánh nhau, đứa cầm bù lon, đứa cầm dao, chém đập nhau, đổ máu, lính bắt hết mà đem về bót. Giành một người hành khách có lợi được bao nhiêu, mà đến nỗi phải lác đầu găy tay, phải bị bắt ở tù như vậy!
Thầy băng qua mé nhà chợ, thầy gặp một tốp con nít đứa quần áo lang thang, đứa ở trần trụi, mỗi đứa có một cái thúng, thấy ai mua đồ th́ chạy theo xin đội giùm về nhà. Lại cũng có nhiều con nít khác nữa, đứa ôm nhựt tŕnh, đứa ôm sách, đón mời khách mua giùm. Con nít đến tuổi nầy th́ phải ở tại nhà trường, v́ cái nghèo mà phải chịu cực khổ từ lúc thơ ngây, ăn không no, ngủ không khỏe, đau không ai săn sóc, làm không ai dạy khôn, rơ ràng sanh làm người ta chẳng phải là hạnh phước, rơ ràng chốn dương trần chẳng phải là nơi khoái lạc.
Thầy đương ngẩn ngơ suy nghĩ, bỗng nghe trong nhà chợ có tiếng la, rồi thấy người ta lộn xộn một người đờn ông chạy trước, mấy người chen lấn nhau mà rượt theo sau. Có một người đờn bà nói om ṣm: "Tôi mua đồ móc bóp ra lấy tiền mà trả, ở đâu không biết nó xớt giựt cái bóp mà chạy tuốt". Thầy Phát nghe rơ th́ thầy lắc đầu rồi bỏ mà đi.
Thầy lần qua mé chợ bên kia, thấy có mấy người ngồi theo lề đường mà xủ quẻ, hoặc coi tướng, hoặc coi tay, chỗ nào cũng có hoặc đờn bà, hoặc đờn ông đặt tiền mà xin biết coi mạng số chừng nào làm ăn khá. Mấy ông thầy trả lời lanh lợi lắm, nói chuyện dĩ văng, đoán chuyện tương lai của người ta, chẳng khác nào bực thần thánh tiên tri. Đời thiệt thiên hạ họ xảo lạ lùng, mà cũng tại có người tin tưởng yêu cầu, nên họ mới dùng cái xảo mà làm kế sanh nhai được.
Đến trưa thầy Phát về ăn cơm, thầy mới thuật những việc thầy thấy lại cho anh chị nghe. Vợ của Hà Tấn Tài mới cười mà nói rằng: "Ở đời hễ nghèo th́ phải chịu cực khổ, phải sanh gian xảo chớ sao. Mà em đi chơi em lại coi chi những việc kỳ cục như vậy mà buồn. Em phải đi coi hát bóng, hát cải lương, phải đi coi đá banh, đánh tennis mới vui chớ".
Tối lại Thầy Phát qua đường Thuận Kiều kiếm nhà mà thăm thầy Kư. Khi bước vô hàng ba, thầy thấy có hai người đờn ông nằm dưới gạch lồm cồm đứng dậy mà xá thầy. Thầy đứng lại mà ngó, th́ thấy chỗ hai người nằm chỉ kê những tờ giấy nhựt tŕnh mà trải, chớ không có mền chiếu ǵ hết.
Thầy Kư ra rước thầy Phát vô nhà mời ngồi. Thầy Phát hỏi hai người nào nằm ngoài hàng ba. Thầy Kư châu mày mà đáp rằng: "Hai người đó hồi trước làm cu ly trong mấy hăng, bị thất nghiệp nên không có chỗ mà ở. Tôi tội nghiệp quá, hồi trước căn phố nầy bỏ trống không ai mướn, hai người ban ngày đi kiếm ăn, tối về đây mà ngủ. Khi tôi mướn mà dọn về đây, tôi nghe hai người than thở với nhau mà bàn kiếm chỗ khác mà ngủ. Tôi thấy vậy động ḷng, nên tôi biểu tối cứ về đó mà nghỉ chẳng cần phải đi đâu. Hai người cám ơn tôi quá; họ ngủ đó chẳng hề làm điều chi nhọc ḷng tôi, khuya chừng lối năm giờ họ thức dậy quét đàng trước sạch bót rồi mới đi".
Thầy Phát nghe việc thê thảm như vậy th́ thầy thở ra mà nói rằng:
- Ban ngày họ đi làm việc ǵ?
- Có việc ǵ đâu mà làm. Bị khuẩn bách không ai mướn làm việc ǵ chi nữa hết. Họ đi bậy ngoài chợ ai mướn làm giống ǵ cũng được, ai cho bao nhiêu tiền cũng lấy.
- Nếu bữa nào không ai mướn làm việc chi hết, rồi tiền đâu mà ăn cơm?
- Ăn cơm th́ tốn hao bao nhiêu. Hai đồng xu th́ kiếm một bữa cơm được rồi.
- Ăn cơm đâu mà rẻ vậy?
- Toa không biết hay sao? Xẩm nó đi kiếm mấy tiệm cao lầu nó mua cơm với đồ ăn dư. Nó đem về mấy quán cóc, hoặc đem ra mé chợ hay là góc đường, nó bán lại từ xu nhỏ cho nhà nghèo ăn. Tôi thấy họ mua một đồng xu cơm với một đồng xu đồ ăn th́ ăn no nóc.
- Cha chả! Khổ đến thế hay sao? Hèn chi hồi sớm mơi ở trong tiệm cà phê họ giành với nhau mà ăn cái tô hủ tíu dư của toa đó!
- Ừ, bây giờ khổ lắm mà. Thậm chí đờn bà con gái cũng không có chỗ ở, phải ngủ ngoài trời theo mấy cái băng đá mới thiệt tội nghiệp chớ.
- Tôi thấy cái cảnh khổ nầy rồi tôi nhớ cái cách họ đánh bạc chơi bời ở dưới Tiểu Cần, thiệt tôi buồn quá.
- Ở đời hễ giàu th́ sung sướng, nghèo th́ cực khổ, có cái ǵ đâu mà buồn. Thôi, hai anh em ḿnh đi coi hát chơi; nghe nói tối nay ở rạp hát Thanh Bạch có ban hát bộ nào đó hát hay lắm.
- Tôi ít ưa coi hát, coi khuya buồn ngủ lắm.
- Thây kệ, đi bậy chơi mà. Như hát hay ḿnh ở chơi khuya, c̣n như hát dở th́ ḿnh chơi một chút rồi về ngủ, có hại ǵ.
Hai thầy dắt nhau xuống rạp hát Thanh Bạch, thấy ngoài cửa dán giấy đề "Hát hay lắm" chữ lớn đại, nghe trong rạp kèn trống vang vầy. Thầy Kư mua hai cái giấy hạng nhứt rồi dắt nhau vô cửa. Bầu gánh cổ động th́ khoe hát hay lắm, mà kép hát ra sân khấu th́ hát không ra tiếng. Hai thầy ngồi coi tới chín giờ rưỡi, không thấy lớp nào hay, nên thối chí rủ nhau ra về. Ra tới ửa, bỗng gặp một đứa con gái chừng mười một, mười hai tuổi đón xin giấy. Thầy Kư trao cái giấy của thầy cho nó mà nó c̣n chạy theo thầy Phát mà xin nữa. Thầy Phát cũng cho luôn cái giấy rồi cười mà nói: "Con nhỏ kỳ quá! Muốn coi hát th́ xin một cái giấy cũng vô cửa được, lại nài xin làm chi tới hai cái không biết".
- Toa quê mùa quá! Toa tưởng nó xin giấy đó đặng coi hát hay sao?
- Nếu không coi hát th́ xin giấy làm chi?
- Nó xin đặng nó bán lại, mỗi cái năm ba xu đem tiền về cho cha mẹ mua cơm ăn chớ.
- Trời ôi! Có cái nghề như vậy nữa sao?
- Ở đất Sài G̣n nầy nghề nào cũng có hết thảy. Con nhỏ hồi nảy đó nó xin giấy hát mà bán, mỗi đêm kiếm cũng một hai cắt bạc.
- Thiệt tôi không dè chút nào hết.
- Ở Sài G̣n có đủ nghề mà. Bữa nào toa đi coi hát bóng, toa sẽ thấy trước rạp hát có một bầy con nít chực sẵn mà giữ xe hơi của họ vô coi hát.
- Xe hơi th́ có sốp phơ c̣n giữ cái ǵ.
- Có nhiều chủ xe họ cầm bánh, chớ không mướn sốp phơ. Họ vô coi hát họ giao cho một đứa trẻ giữ, chừng văn hát họ cho một cắc. Cái cách giữ xe mướn đó, ngoài chợ Bến Thành cũng có, song ngoài chợ họ mướn giữ xe máy cho họ đi chợ, mỗi cái hai xu. C̣n trong trường đua ngựa họ giữ một cái xe máy ăn tới năm xu.
- Sao toa biết nhiều chuyện quá vậy?
- Ở Sài G̣n th́ phải quan sát chớ. Toa lúc nầy rảnh rang, toa nên đi vô mấy xóm nhà lá, đi vô mấy dăy phố trong đường hẻm, đi đến mấy chỗ cu ly ở đặng coi cho biết cảnh hèn hạ cực khổ của con nhà nghèo. Mà coi cái khổ cũng chưa đủ, toa c̣n phải đi đến mấy chỗ thiên hạ ăn chơi, đi coi mấy chỗ thiên hạ đánh bạc, toa phải kiếm mà thấy cách gian lận, kiếm mà thấy cách thiên hạ lường gạt nhau, chừng toa quan sát cho đủ hết rồi, toa mới biết loài người bây giờ trí năo tánh t́nh đều giống nhau, mỗi người là một "tay điếm“ trong chợ xă hội, ai cũng chăm lo kiếm cho được cái đồng tiền, người nào kiếm được nhiều th́ đứng về bực giỏi, bực cao, người nào kiếm được ít th́ đứng về bực dở, bực thấp, cái nghĩa của sự sống trong đời là "làm cho có tiền" mà thôi.
Thầy giáo Phát nghe lời bạn nói th́ thầy mỉm cười. Thầy cho lời khuyên quan sát nhơn vật là phải c̣n lời luận xă hội kim tiền th́ thầy c̣n nghi là lời quá đáng.
Tuy vậy mà thầy về nhà suy nghĩ hoài; thầy cứ hỏi trong trí vậy cái nghĩa của sự sống là lo mưu tính kế làm cho có tiền nhiều mà thôi hay sao? C̣n nhơn nghĩa, c̣n đạo đức ở đâu?
Anh Hà Tấn Tài hôm nọ khuyên phải đi chơi, mà bạn là Cao Lương Kư bữa nay khuyên cũng phải đi chơi. Thầy Hà Tấn Phát chẳng c̣n ái ngại dụ dự nữa. Mỗi ngày lúc trời mát th́ thầy thả đi chơi, bữa đi đường nầy, bữa đi đường khác. Thầy không thuộc Sài G̣n cho lắm, phần th́ đi chơi một ḿnh gặp cảnh vui hay cảnh buồn, không có ai nghị luận, nên mất thú vị hết nhiều. Thầy nhơn mấy bữa chúa nhựt thầy mới rủ bạn là Cao Lương Kư đi với thầy, đi tối ngày, đi cùng hết.
Nhờ đi chơi như vậy thầy giáo Phát mới thấy trong mấy xóm nhà lá, kẻ nghèo ăn ở dơ dáy không có vệ sinh chút nào, mới được thấy trong mấy hóc hẻm loi nhoi đủ các hạng người, kẻ dữ gần với người hiền, kẻ ngay chung với người gian vậy, già tóc bạc mà ở ăn không nên nết, trẻ ngây thơ mà cười nói đă lả lơi, v́ chữ nghèo mà mạng phải rẻ, phẩm phải hèn, v́ chữ nghèo mà hết nghĩa nhơn, quên đạo đức.
Thầy giáo Phát xem đủ cách buồn rồi thầy mới khuyên thầy Kư đi t́m cái vui.
May lúc ở Sài G̣n có tổ chức cuộc chợ đêm đặng lấy tiền cứu giúp cho kẻ bị tai nạn. Hai anh em mua giấy vô cửa, mỗi người hết năm cắc mà đi coi chợ đêm. Hội chợ th́ chẳng thấy cuộc chi vui, nhưng mà thiên hạ đông dày, đờn ông con trai, đờn bà con gái đều mặc y phục xinh đẹp, diện theo cách kim thời mua những gói giấy màu sắc nhỏ để văi lộn với nhau. Chừng ra về thầy Kư hỏi thầy Phát vậy chớ thầy nghĩ cách chơi văi giấy màu đó hay, hay là dở? Thầy Phát cười mà đáp rằng: "Chẳng nói chi đến cái phương diện phong hoá, theo ư tôi, mấy người mua giấy màu mà văi lộn với nhau đó hay hơn là để số tiền tốn hao như vậy mà cho những kẻ nghèo ở trong mấy xóm nhà lá, th́ có ơn nhiều. Số tiền của một người văi đó đủ nuôi được nhà nghèo đôi ba bữa".
Cách vài ngày sau hai anh em dắt nhau vô một nhà hàng bán rượu mà coi "An nam nhảy đầm". Thầy giáo Phát thấy con trai con gái đeo nhau mà nhảy trước mặt công chúng th́ trái với con mắt quê mùa của thầy quá, nên hối thầy Kư uống rượu riết cho hết mà ra.
Chừng ra ngoài đường, thầy Phát mới nói rằng: "vui chơi có nhiều cách, có cách thanh cao, có vui thô tục. Năm ngoái ở Tiểu Cần tôi trách anh em dắt ca nhi đi du hồ; nay tại kinh thành tôi được thấy tân thời trí thức tổ chức cuộc nhảy đầm, té ra lời trách của tôi năm ngoái thiệt oan cho anh em Tiểu Cần quá!"
Qua tuần sau người ta tổ chức hai cuộc thể thao rất to tát, để tranh giải thưởng. Có giấy lớp dán cùng vách, lớp rải cùng đường, lại nhiều tờ nhựt báo cũng cổ động trót bốn năm bữa, mà nói rằng chiều thứ bảy có một cuộc đánh tennis, rồi chiều chúa nhựt lại có một cuộc đá banh tṛn, trong hai cuộc đều tuyển chiến tướng đại tài ở Nam Kỳ để tranh đấu với chiến tướng Cao Mang.
Thầy Phát rủ thầy Kư mua vé vô coi luôn hai bữa, coi đánh tennis mỗi người mất một đồng, c̣n coi đá banh mỗi người mất hết năm cắc. Tuy đánh tennis thâu tiền vô cửa mắc, mà thiên hạ cũng đi coi đầy sân, tiếc v́ hai người đấu với nhau mới có hai sết[2] mỗi người ăn một sết, rồi một người chịu thua, thành ra không có tranh kịch liệt, nên không thú vị. C̣n bữa đá banh th́ thiên hạ lớp ngồi lớp đứng giàn nào cũng đầy nhóc. Chiến tướng ráp đá, ban đầu hai bên hăng hái, nhưng mà cách chơi c̣n ḥa nhă. Cách mười phút đồng hồ, chiến tướng Nam Vang ăn được một bàn. Chiến tướng Nam Kỳ quyết gỡ, nên nỗ lực công kích dữ dội. Bên Nam Vang ráng thủ thắng, thành ra xung đột. Chiến tướng trong sân th́ nóng nảy, công chúng trên giàn th́ lại đốc sức la lối om ṣm. Chiến tướng đá banh mà coi thế không cần trái banh nữa người nầy lừa đá ống quyển người kia, người kia kiếm thế đá trong ngực người nọ. V́ sức lực yếu, lại luyện tập ít, nên đá mới nửa cuộc rồi bên nào cũng bết hết, người th́ đưa chơn đá gió, kẻ th́ không chịu theo banh, làm cho khán giả la rùm, biểu trả tiền lại.
Theo cách cổ động th́ công chúng ai cũng tưởng tennis bữa trước và cuộc đá banh bữa sau chắc là hay lắm, nào dè bữa trước lở dỡ, bữa sau chèm nhẹp; về dọc đường khán giả bàn với nhau, người th́ nói đi coi uổng tiền, kẻ th́ than nền thể thao suy sụp.
V́ thầy Kư hỏi ư kiến nên thầy Phát nói rằng: "Thể dục là một môn học có ích cho phần xác, cũng như ăn học có ích cho phần trí. Chủ nghĩa của người bày môn thể dục là muốn làm cho bực thanh niên trong nước thân thể được tráng kiện, nghĩ th́ thân được mạnh th́ trí mới dạn, mà thân mạnh trí dạn, th́ ở đời mới có thế tấn thủ được. Cái chủ nghĩa của thể dục th́ cao thượng như vậy đó. Theo ư tôi th́ người làm đầu về thể dục trong xứ ḿnh phải cần lo phương kiếm chước làm thế nào cho dân chúng từ thị thành cho tới thôn quê mọi người đều biết ái mộ thể thao, mọi người đều luyện tập thể thao. Phải giục ḷng người, phải khuyến khích người, phải dạy dỗ người, nếu người không có đủ đồ tập th́ phải giúp cho người. Nói tóm một điều là phải gây cho cái phong trào thể thao, đặng đờn bà cũng như đờn ông, ở đồng cũng như ở chợ, con nít cũng như người lớn, ai cũng đều tập luyện gân cốt hết thảy. Mà theo con mắt tôi xem, th́ thể dục bấy lâu nay không có chương tŕnh, không có phương pháp ǵ hết. Cái điều tệ nhứt là người lănh trách nhiệm tổ chức thể dục lại đem cái môn quư báu ấy làm như một cuộc buôn bán, lo cổ động rao hàng bày định giá trồi sụt, chớ không lo phổ hoá hoặc cải lương ǵ hết. Cái phương châm kiếm tiền, thấy thiệt buồn quá”.
Thầy Kư rùn vai đáp rằng: "Moa đă nói với toa, cái nghĩa của sự sống đời nầy là làm cho có tiền, có ǵ đâu mà buồn".
*
Vợ chồng Hà Tấn Tài, có cho một thầy kia, ở phố lầu, có xe hơi, vay một ngàn đồng mỗi tháng tiền lời bốn chục đồng. Trả tiền lời vài tháng rồi nín mất, Hà Tấn Tài đ̣i riết, thầy nọ mới năn nỉ đem thế cái xe hơi mà trừ nợ. Tấn Tài thấy xe c̣n tốt, lại nghĩ đến không lấy tiền cũng mất vốn. Bởi vậy chịu sang bộ rồi mướn sốp phơ đem xe về. Có xe hơi rồi, vợ chồng Hà Tấn Tài chiều hoặc tối hay dắt thầy Phát đi một ṿng mà hóng mát.
Một đêm thứ bảy, vợ chồng Hà Tấn Tài đi với thầy giáo Phát lên Thủ Đức ăn nem, xe tới Thủ Đức, vừa quẹo đường ra xe lửa, th́ thầy giáo Phát thấy đèn khí sáng ḷa, thiên hạ rần rộ, xe hơi chật đường. Ấy là hạng người có tiền tựu lại Thủ Đức mà ăn nem hứng mát.
Xe chạy chầm chậm, thầy Phát ngó vô mấy quán nem, th́ quán nào khách khứa cũng đông nức song khách từ dụm mà ngồi, mà bàn nào cũng có đờn bà và cũng cười giỡn om ṣm. Thầy Tài biểu sốp phơ ghé xe ngay cái quán lớn hơn hết, rồi dắt vợ và em lại ngồi một cái bàn để ngoài sân, kêu bồi đem nem ăn. Cái bàn ngang phía bên kia th́ có ba người ngồi; một người trạc chừng hai mươi bốn, hai lăm tuổi, mặt dồi phấn trắng nơn, đầu xức dầu rồi chải tóc láng lẩy, ḿnh mặc bộ đồ ga-bạc-đin xám, chơn mang một đôi giày nửa trắng, nửa vàng. Người trai ấy ngồi giữa, hai bên có hai cô cặp kè. Một cô mặc áo quần toàn màu đỏ, một cô mặc áo quần toàn màu xanh, áo th́ vắn chũng hai tay và trôn có giún tai bèo, cô nào cũng dồi phấn mặt trắng toát, má ửng hồng, môi đỏ ḷm, mày nhỏ rức.
Thầy Phát tuy ngồi ăn nem, mà mắt liếc qua cái bàn đó, th́ thấy hai cô giỡn hớt với cậu, nói nói, cười cười, rồi lại ôm mặt mà hun, không kể ai hết. Ăn uống rồi cậu móc bóp ra trả tiền, hai tay cặp hai cô, vác mặt hân hoan bước lên xe mà đi.
Hà Tấn Tài ngó em cười và nói rằng: "Đi Thủ Đức ăn nem là vậy đó, nên thiên hạ mới rần rộ, chớ ăn nem như ḿnh th́ sai trẻ mua về mà ăn, cần ǵ phải đi Thủ Đức".
Một bữa chúa nhựt, Hà Tấn Tài coi nhựt tŕnh rồi nói tuần nầy tại trường đua ngựa có đua độ hội lớn lắm, nên ngủ trưa dậy rồi mới đem xe hơi ra đặng dắt vợ với em đi trường đua chơi. Khi ra gần tới trường đua th́ gặp xe hơi, xe ngựa, xe máy chật đường, rồi tới cửa th́ thấy thiên hạ chen nhau vô giấy mà đi nườm nượp. Trong số người đi coi đây phần đông là An nam, chẳng những là đông bên hạng không đồng hai mươi lăm đứng ngoài trời mà thôi, mà bên hạng một đồng mười ngồi trên khán đài, An nam cũng đông thập phần, lại đờn bà số gần phân nửa.
Lăng Tử
21-04-2009, 02:39 PM
Khi mới vô, thầy Phát tưởng rằng thiên hạ v́ muốn coi ngựa chạy đua nên chịu tốn tiền đến coi chơi cũng như coi hát, hay là coi đá banh. Té ra ngồi đợi một lát thầy ḍm coi thiên hạ bàn bàn luận luận, đi coi ngựa, hỏi tên nài[3] , rồi chen nhau mua giấy, kẻ cá con ngựa số một năm mười đồng, người cá con ngựa số khác năm ba chục, có người lại dám cá tới năm ba trăm, đờn bà cũng mua giấy cá bạc chục như đờn ông, người cá về nhứt, về nh́, về ba, kẻ khen ngựa hồng hôm dượt chạy hay, kẻ chê ngựa đậm bị chở nặng. Chừng ngựa về tới mức, người trúng th́ vỗ tay nhảy nhót, chạy đi lănh tiền c̣n kẻ thua th́ mặt mày buồn hiu, lấy chương tŕnh ra mà tính xem coi độ kế phải đánh con nào mà gỡ. Thầy Phát coi luôn tới bảy độ mới măn cuộc, mà độ nào số tiền đánh cá cũng tới năm bảy ngàn, có độ hội họ đánh tới mười bốn ngàn. Chừng ra cửa mà về, thầy Phát lóng nghe một người đờn bà vui cười, khoe ăn được ba trăm hai; c̣n một người đờn ông mặt xụ xị, nói thua gần một ngàn rưỡi.
Về dọc đường thầy Tài hỏi thầy Phát rằng:
- Em thấy đua ngựa hay chưa? Họ ăn thua lớn quá.
- Tôi tưởng bày đua ngựa chủ ư giục ḷng dân tranh nhau mà nuôi giống ngựa hay, ngựa tốt, đặng trong xứ có nhiều ngựa mà dùng. Thiệt tôi không dè thiên hạ thừa cái dịp ấy mà đánh bạc dữ quá.
- Đời nầy là đời kim tiền, làm việc ǵ, chơi cuộc ǵ cũng mưu lợi hết thảy, đến đỗi đá banh, đánh tennis, mà người ta c̣n cá ăn thua tới bạc trăm, huống chi mà đua ngựa đá gà. Qua nghe nói trong chợ đêm họ đá gà tới chín ngàn một muôn.
- Trời ơi, nghe nói giá lúa sụt, người ta nghèo hết thảy, tiền bạc ở đâu mà họ tranh ăn thua với nhau tới bạc muôn không biết!
- Họ nghèo họ trả nợ không nổi, chớ đánh bạc họ có tiền luôn luôn. Để bữa nào qua dắt em vô mấy nhà xẹt[4] trong Chợ lớn em coi họ đánh bài, đánh hột, ăn thua c̣n ghê hơn nữa chớ.
Thầy giáo Phát đi chơi mấy tháng, thấy thiên hạ người th́ nghèo khổ đáo để, kẻ th́ xài phí vô độ, dầu làm việc ǵ, dầu chơi cuộc nào, cũng cốt mưu lợi cũng quyết giựt tiền nhau, chớ chẳng thấy ai làm một việc nhơn nghĩa, chẳng nghe ai nói một tiếng đạo đức. Thầy suy nghĩ lại thầy mới biết lời của anh Hà Tấn Tài khuyên thiệt là hay, thầy mới hiểu lời của bạn là Cao Lương Kư luận thiệt là đúng, thầy mới thấy rơ luân lư trong sách vở không giống luân lư của người đời. Chừng thầy thấy cuộc đời đủ rồi, thầy bức tức cười về cái "Tư cách trái mùa" của thầy trong mấy năm nay, bởi trái mùa th́ hiệp với thiên hạ sao đặng.
Tuy vậy mà cái lương tâm của thầy vẫn c̣n lộn xộn, thầy cũng hỏi thầm trong trí hoài, thiên hạ như vậy, thế t́nh như vậy, ḿnh phải làm theo thiên hạ cho thích hợp với t́nh thế, hay là cứ giữ lời của thầy dạy, cứ nói câu sách xưa, cứ đường ngay thẳng mà đi, dầu ḿnh nghèo hay giàu, dầu ai ghét hay thương mặc kệ.
Hà Tấn Tài ḍm em xem có sắc lo, hỏi duyên cớ, th́ Hà Tấn Phát nói rằng: "Mấy tháng nay em nghe lời anh, em đi chơi, em đi quan sát nhơn vật, em dọ dẫm thế t́nh, em thấy rơ tánh chất của em khác hơn thiên hạ xa quá. Hổm nay em bối rối, như người đi lạc đường, không hiểu bây giờ nên sửa tánh mà theo đời, hay cứ giữ chơn tánh mà làm, không cần ai thương ghét".
Hà Tấn Tài cười ngất rồi nói rằng: "Em nói mấy lời th́ qua đă hiểu em học nhơn t́nh thành thục rồi. Trong ít tháng mà em được như vậy, thiệt qua mừng lắm. Bây giờ em biết thế t́nh rồi, th́ em phải ở theo thế t́nh cho hiệp với thiên hạ, em c̣n dụ dự cái ǵ. Em có kinh nghiệm rồi mà em chưa hiểu hay sao? Tại em làm trái thế t́nh, nên mấy năm em ở Tiểu Cần, thiên hạ không ưa rồi em mang họa đó. Ở đời nầy thiên hạ gian xảo giả dối hết thảy, ai cũng nhờ gian xảo giả dối mới giàu sang, nếu em muốn giữ đạo đức nghĩa nhơn th́ em phải ở địa vị nghèo hèn. Như em không chịu làm theo thiên hạ, thôi th́ vô chùa hoặc lên núi mà tu đi, chớ đời kim tiền, người giả dối, mà em giữ đạo đức, làm nhơn nghĩa th́ đă vô ích, mà c̣n thêm hại nữa".
Thầy Hà Tấn Phát suy nghĩ rồi thầy gục gặc đầu. Thầy Hà Tấn Tài thấy vậy bèn hỏi:
- Em gặc đầu là sao? Em tính đi tu hay là ở thế gian?
- Em phải ở thế gian.
Thầy giáo Hà Tấn Phát bị ngưng chức hơn một năm Ṭa mới xử xong xuôi công việc của thầy. Nhờ ông trạng sư Francois lăo thông pháp luật, lại có tài hùng biện, mà cũng nhờ Hà Tấn Tài cũng chịu tốn hao, giỏi nghề vận động, nên Ṭa phúc án hủy án Ṭa sơ, xử Bành Đại Lợi và Hà Tấn Phát vô tội, cả hai người đều được trắng án. Ṭa hộ tự nhiên phải theo cái án của Ṭa phúc án đó mà xử vụ Chà Annouchetty và Chà Trahamochetty kiện xin hủy tờ của Hà Tấn Phát mua ruộng đất. Ṭa lên án bác đơn của tiên cáo, thành ra những ruộng đất nhà cửa mà Bành Đại Lợi làm tờ đoạn măi cho Hà Tấn Phát đó, th́ Hà Tấn Phát được làm chủ vĩnh viễn, những chủ nợ của Bành Đại Lợi không được biên tịch mà thi hành phát măi.
Hà Tấn Phát đă được trắng án bên Ṭa h́nh, đă được kiện luôn bên Ṭa hộ, tự nhiên quan trên nghị định cho phục chức làm thầy giáo lại như cũ và bổ thầy làm tùng sự tại Học chánh quản lư văn pḥng ở Sài G̣n. Thầy hay tin được phục chức rồi, tối lại thừa lúc anh chị ngồi chơi, thầy mới nói rằng: "Thưa anh chị, khi em c̣n nhỏ anh chị nưng đỡ d́u dắt em, làm cho em có thế đứng đợt với đời. Em dại dột, để cho người ta xô em té đi. Anh chị không chấp, lại cứu vớt em nữa. Ngày nay em khỏi nạn rồi, khỏi ở tù mà lại được phục chức, thiệt cái ơn của anh chị em không biết lấy chi đền đáp cho vừa..".
Hà Tấn Phát mới nói tới đó, th́ Hà Tấn Tài chận lại mà nói rằng: "Kiến họ Hà của ḿnh chỉ c̣n có anh với em đây mà thôi. Vợ chồng qua giúp em là lẽ tự nhiên, có lạ ǵ mà em phải nói cho nhiều. Trời đất thương vợ chồng qua, nên ngày nay qua được giàu có, có lẽ nào qua để cho em hèn hạ hay sao? Thiệt cái việc của em lấy làm khó tin hết sức. May nhờ phước ông bà để lại, nên mới khiến cho qua tính nhằm đường, lo đúng cách, chớ qua không phải giỏi ǵ. Thôi, ngày nay việc đă xong rồi, em đă khỏi nạn mà lại được ruộng vườn nhà cửa, vậy em hăy liệu lấy mà ǵn giữ đặng an hưởng cho trọn đời. Qua đă có nói với em nhiều lần, đời nầy thiên hạ gian xảo dối gian lắm. Mỗi việc ǵ em cũng đừng tin ai hết. Bây giờ em là một vị điền chủ lớn rồi, qua tưởng em cũng nên làm việc lại ít tháng cho thiên hạ hết chê cười nữa, rồi em xin từ chức đặng ở nhà mà quản suất sự nghiệp của em, trong ít năm đúng tuổi em ra tranh cử Hội đồng Quản hạt, lăn lộn với đời chơi, cho họ biết danh cái kiến họ Hà không phải là hủ lậu".
Hà Tấn Phát ngó sửng anh và hỏi rằng:
- Anh tính cho em phải lấy luôn gia tài sự sản của hội đồng Lợi hay sao?
- Ủa! Em hỏi cái ǵ mà kỳ vậy? Hội đồng Lợi làm tờ bán đứt cho em, sao lại c̣n làm giấy thêm mà giao, có vợ con đứng đủ nữa. Bây giờ em được kiện th́ em lấy chớ sao.
- Em khỏi bị án th́ thôi, c̣n của người ta sang bộ mượn em đứng giùm, mà em lấy luôn th́ ác lắm.
- Vậy mà em nói em đă quan sát nhơn vật, em đă thấu đáo thế t́nh giống ǵ đâu! Em đă nói em quyết ở thế gian, mà em c̣n sợ ác, thôi th́ em đi tu cho rồi, chớ ở thế gian làm ǵ. Em coi hết thảy coi có ai làm nhơn nghĩa mà được giàu sang bao giờ đâu?
- Anh nói phải lắm, mà làm như vậy, sợ thiên hạ dị nghị chớ.
- Trời ơi! thiên hạ giựt của với nhau, cách họ làm c̣n ác bằng mười phần của em nữa, mà có ai chê cười ai đâu. Ai giựt giỏi, được làm giàu lớn, họ c̣n ngợi khen kính phục nữa chớ. Việc của em không ác chút nào hết. Hội đồng Lợi bị án, anh ta đă vô phương cùng thế, nên mới làm giấy thêm mà giao đứt sự sản cho em. Anh ta quyết bỏ, nên Ṭa trên đ̣i hầu mấy kỳ anh ta giả đau, để khiếm diện luôn luôn, em không thấy hay sao. Qua phải xuất bảy tám ngàn đồng bạc, lo ngày tính đêm, mới xong công việc. Anh ta bỏ phú, ḿnh làm cho anh ta được trắng án, khỏi ở tù, ấy là làm ơn cho anh ta nhiều rồi, anh ta c̣n chỗ nào phiền được. Sự nghiệp của anh ta bề nào th́ chúng cũng thi hành phát măi, nếu ḿnh lo dở, th́ sự nghiệp ấy cũng tiêu hết, anh ta phải ở tù mà anh ta c̣n kéo lây tới em ở tù nữa chớ, coi có hại hôn? Qua nói thiệt, vợ chồng qua mà xuất bảy, tám ngàn đồng bạc ra lo vụ kiện nầy, bổn tâm của vợ chồng qua muốn giúp một số tiền nhỏ đặng gây cái sự nghiệp lớn giùm cho em. May Trời Phật pḥ hộ giúp cho qua thành công, qua mừng lắm, qua cho luôn em số bạc tốn hao đó, qua không đ̣i. Qua nói cho em biết, nếu em làm mặt quân tử, em muốn trả sự sản của Hội đồng Lợi lại cho va, th́ qua buộc em phải trả tám ngàn đồng bạc tổn phí đó, mà c̣n kiện đ̣i em tám chục ngàn đồng bạc mà em làm giấy vay qua đó nữa, rồi qua thi hành phát măi hết ruộng đất cho em biết chừng. Em đừng có khờ lắm vậy. Em trả ruộng đất lại cho Hội đồng Lợi th́ chủ nợ kiện lấy tiền. Hội đồng Lợi ăn uống ǵ được.
- Nếu em lấy luôn, như em không giựt của Hội đồng Lợi th́ là giựt của mấy chủ nợ, bề nào cũng mang tiếng không tốt.
- Em nói chủ nợ ăn quá vốn rồi, họ có thiệt ǵ đâu mà ngại. C̣n cái việc tốt xấu, qua đă thường nói với em, đời nầy thiên hạ có biết ǵ đâu mà tốt, cái ǵ mà xấu đâu, chỗ tốt họ thường chê bai, chỗ xấu họ lại ham muốn, em đừng có lo chỗ đó. Em lấy hết gia tài của Hội đồng Lợi em làm chủ, thiên hạ c̣n khen em là người khôn ngoan, em có bạc có lúa nhiều, thiên hạ mới tôn trọng em là bực thượng lưu trí thức. Em không nhớ hay sao? Mấy năm nay em dạy học dưới Tiểu Cần, em ở phải, em ở tử tế hết sức mà thiên hạ coi em ra giống ǵ, họ đă không trọng em, mà họ lại c̣n khinh khi em nữa chớ. C̣n hơn một năm nay em về Sài G̣n, em đi chơi, em đă thấy thế t́nh ra thế nào rồi. Em đừng có căi qua, em phải lănh gia tài của Trời cho đó đi, em lănh em mới có tiền làm việc phải, em mới giúp kẻ nghèo nàn cùng khổ được chớ. Nếu em không lấy th́ qua lấy, coi ai chê qua ác, coi ai cười qua dại cho biết.
Hà Tấn Phát không có lời chi mà đáp lại nữa được. Trót một đêm ấy thầy suy tới nghĩ lui, cân phải đo quấy, thầy khảo luận lư, thầy xét nhơn t́nh, thầy nhớ chuyện đă qua, thầy nhắm việc sẽ đến, trăn trở hoài ngủ không được. Đến sáng thầy lập tâm định trí rồi, thầy mới thưa với anh chị rằng: "Em thưa với anh chị, từ rày sắp lên em sẽ làm y theo thiên hạ. Em ở phải th́ thiên hạ khinh bỉ em. Vậy em không dại ǵ mà cho họ khinh bỉ nữa. Thiên hạ muốn như vậy, th́ em làm như vậy cho họ coi. Em nhứt định đoạt gia tài của Hội đồng Lợi, chớ để cho Chà Và lấy cũng vậy. Nhưng mà em nghĩ lại, nếu mà em đoạt hết thi tội nghiệp cho Hội đồng Lợi. Vậy em xin anh chị cho phép em chiết trong số em đứng bộ đó ra mà cho bớt Hội đồng Lợi: 1) nhà cửa anh ta đương ở đó; 2) năm chục mẫu ruộng ở Tiểu Cần. Anh ta có nhà cửa và được góp huê lợi năm chục mẫu ruộng th́ bề ăn ở được yên mà vợ con cũng được no ấm, chớ em lấy luôn hết th́ cả nhà chết đói c̣n ǵ".
Vợ chồng Hà Tấn Tài đồng khen Hà Tấn Phát tính như vậy là phải, song lại c̣n e nếu sang bộ lại cho Hội đồng Lợi th́ chủ nợ thi hành.
Hà Tấn Phát suy nghĩ một hồi, rồi nói rằng: "Em xin anh chị cho em xuống Tiểu Cần vài bữa mới được, bề nào em cũng phải nói minh bạch cho vợ chồng Hội đồng Lợi biết. Luôn việc em biểu Hội đồng Lợi phải kiếm người chắc chắn đặng em sang bộ nhà và năm mươi mẫu ruộng lại cho anh ta, Vả lại anh ta có một người con lớn, em tưởng sang bộ cho người con đó được. Tuy em đă được giấy phục hồi chức rồi, nhưng mà trong năm bảy bữa nữa em vô lănh việc cũng được, không gấp ǵ".
Hà Tấn Tài đáp: "Phải chớ, em phải xuống nói rành rẽ cho anh ta biết. Em lấy xe hơi nhà đó mà đi. Em cho anh ta lại những nhà cửa với năm mươi mẫu ruộng đó là nhiều lắm rồi. Nếu anh ta có nài xin thêm th́ em đừng chịu đa, nghe hôn. Coi như anh ta nói kỳ cào th́ em lấy luôn, đừng cho ǵ hết".
Khuya bữa sau, Hà Tấn Phát lấy xe hơi của anh mà đi Tiểu Cần.
Ngày ở Tiểu Cần bị ngưng chức, chở rương về trong ḷng hổ thẹn buồn rầu bao nhiêu, hôm nay đă được phục chức; lại được bổ làm sự tại Học chánh quản lư văn pḥng, được làm chủ ruộng đất nhiều, được ngồi xe hơi nhà lấy làm vinh diệu, th́ trong ḷng cũng hớn hở bấy nhiêu. Xe chạy gần tới Tiểu Cần, thầy giáo Phát ngồi ngó mông, th́ thấy cũng cảnh vật đó, mà ngày trước coi sao buồn hiu, c̣n bây giờ coi sao lại vui vẻ.
Xe tới Tiểu Cần mới chín giờ sớm mơi. Chạy ngang qua trường học, thầy giáo Phát thấy học tṛ ra chơi, có ông Đốc và mấy thầy xúm nhau đứng trước cửa trường mà nói chuyện, thầy bèn ngừng xe lại đặng thăm ông Đốc với bạn đồng liêu.
Ông Đốc học Tâm thấy thầy Hà Tấn Phát th́ mừng rỡ, bắt tay chào lăng xăng. Ông Đốc học nói rằng: "Anh em tôi mới nhắc thầy tức th́ đây không dè nhắc linh quá, mới nói đó kế thầy xuống tới. Thấy nhựt tŕnh hôm qua nói thầy đă được phục chức mà lại được bổ vào Học chánh quản lư văn pḥng sướng quá há. C̣n vụ Chà nó kiện Hội đồng Lợi với thầy về tội sang đoạt đó, Ṭa sơ xử như vậy, nghe nói thầy chống án, rồi bây
Lăng Tử
21-04-2009, 02:40 PM
giờ ra làm sao?"
Thầy Phát cười mà đáp rằng:
- Vụ đó xong hết rồi, nên tôi mới được phục chức chớ, không tôi ở tù mất chức c̣n ǵ. Ṭa phúc án hủy án Ṭa sơ và lên án nói tôi mua gia tài của Hội đồng Lợi đó là đủ phép, nên không có tội ǵ hết.
- Té ra Hội đồng Lợi cũng được trắng án nữa?
- Thưa, phải.
- Vậy mà anh ta lo sợ quá, phát đau, rồi chết chớ.
- Húy! Hội đồng Lợi chết rồi hay sao?
- Chết rồi.
- Chết hồi nào?
- Chết gần nửa tháng nay.
- Vậy mà tôi không hay chớ. Thẩy bỏ liều, Ṭa trên đ̣i mấy lần thẩy không đi hầu lần nào hết.
Thầy Nguyên chen vô hỏi:
- C̣n ruộng đất nhà cửa của Hội đồng Lợi sang cho thầy đứng đó bây giờ Ṭa xử làm sao?
- Ṭa Hộ cũng xử rồi, xử tôi làm chủ vĩnh viễn không ai được phát măi. Bây giờ tôi hưởng chớ sao.
- Trời ôi, Thầy có phước lớn quá!
- Thiệt cũng may lắm, Tôi tưởng bị ở tù chớ.
- Thầu Hậu hỏi:
- Sao tôi nghe nói hồi đó Hội đồng Lợi cậy thầy đứng hộ giùm, chớ không phải bán.
- Đứng bộ giùm sao được, nếu làm gian th́ Ṭa hủy tờ rồi Chà Và thi hành hết c̣n ǵ. Hội đồng Lợi làm tờ đoạn măi rành rẽ, sau đó làm thêm một cái giấy mà giao cho tôi nữa, có cái ǵ lôi thôi đâu.
- Thầy thiệt là giỏi! Nếu vậy th́ bây giờ thầy giàu lớn lắm.
- Th́ gia tài ruộng đất của ông Hội đồng Lợi về tôi làm chủ hết.
- Đúng quá.
Thầy Sanh hỏi:
- Xe hơi thầy đó là xe của thầy mua hay là của ai?
- Không. Xe nầy của anh tôi. Tôi sẽ mua một cái xe mới, chừng hai ba chỗ ngồi, đặng đi chơi. Có một ḿnh, mua xe lớn tốn xăng nhớt nhiều, không ích ǵ.
- Thầy cừ quá! Tụi tôi đây biết đến chừng nào mới được như vậy!
Ông Đốc học hỏi:
- Thầy xuống chơi rồi chừng nào về?
- Tôi xuống chơi thăm mấy ông và thăm thầy Hội đồng, có lẽ chiều tôi về.
- Về chi gấp vậy? Không mấy thuở xuống, ở chơi mai sẽ về.
- Bây giờ tôi có ruộng đất dưới nầy, tôi sẽ lên xuống thường lắm. Vậy để lần sau sẽ ở chơi lâu. Chuyến nầy tôi phải về để mốt lănh việc.
- Chừng nào xuống nữa không biết, bây giờ sẵn đây tôi mời thầy chiều ăn cơm với tôi. Xin thầy đừng từ chối. Thầy ở lại ăn cơm, đặng tôi mời đầy đủ anh em mấy thầy hết thảy tụ lại chúc mừng cho thầy tai qua nạn khỏi, lại được phú quư vinh hoa. Thầy nhỏ tuổi mà được như vầy thiệt đáng mừng lắm.
Thầy giáo Phát cứ viện lẽ mắc về gấp mà lănh việc, nên không nhận lời ông Đốc mời.
Thầy giáo Thủ kêu mà nói rằng:
- Thầy nhứt, ruộng thầy đó, thầy tính mướn người coi làm, hay là thầy tính cho mướn?
- Tôi chưa nhứt định. Để thủng thẳng rồi tôi sẽ tính.
- Ruộng đó tốt lắm. Như thầy không làm, th́ để cho tôi bao tá hết cho, tới ngày tôi đong lúa ruộng đủ, thầy khỏi lo ǵ hết.
- Mùa nầy người ta cấy lỡ rồi. Như thầy muốn bao tá th́ để mùa sau rồi tôi sẽ tính.
Thầy giáo Phát từ giă ông Đốc và mấy thầy rồi lên xe qua thăm vợ chồng Hội đồng Lợi. Ông Đốc nói thêm rằng: "À, tôi quên nói cho thầy nghe nữa. Con nhỏ tôi là con Thiện Tú nó thi đậu. Nó không chịu dạy học, nên tôi gả nó cho ông Đốc công Đậu ở bên Long Xuyên". Thầy Phát cười rồi xe rút chạy. Ông Đốc ngó theo, chừng xe chạy khuất rồi, ông mới nói với mấy thầy giáo rằng: "M. Phát bây giờ sướng quá! Có ruộng đất minh mông, đi ra th́ có xe hơi nhà, làm việc th́ gần mặt trời, vậy th́ đúng bực sang giàu rồi, c̣n thiếu giống ǵ nữa đâu. Hồi trước thẩy sang tên đứng bộ giùm cho ruộng đất người ta, ḿnh tưởng thẩy làm bậy, nên khinh khi thẩy, ai mà dè thẩy no nê như vậy. Thiệt là giỏi!"
Thầy giáo Phát qua nhà Hội đồng Lợi vừa ngừng xe ngoài cửa, th́ thấy trong nhà người ta lăng xăng, trên bàn thờ nhang đèn đốt đỏ. Thầy bước vô, vợ con hội đồng Lợi khóc rống lên nghe rất thảm thiết. Vợ hội đồng Lợi và khóc và kể lại rằng: "Thầy nhứt ôi! Thầy xuống thầy thăm ở nhà tôi, mà ổng chết rồi, c̣n đâu mà thăm. Hồi nào anh em tới lui tṛ chuyện sáng đêm; bây giờ thầy tới, chỉ thấy cái bàn thờ, chớ làm sao gặp mặt được nữa mà nói chuyện".
Thầy giáo Phát thấy t́nh cảnh như vậy, thầy lấy làm cảm động, nên ngồi trơ trơ, đợi vợ Hội đồng Lợi khóc kể đă rồi, thầy mới nói rằng:
- Thầy Hội đồng đau tôi không hay, mà mất tôi cũng không biết. Hồi năy tôi ghé trường học, ông Đốc ổng nói, thiệt tôi chưng hửng. Thầy hội đồng đau sao mà mất vậy?
- Có đau bịnh ǵ trọng đâu, chỉ có cái rầu, ăn ngủ không được, càng ngày càng ốm, rồi lần lần tiêu ṃn mà chết. Thầy nghĩ đó mà coi, không rầu, không chết sao được. Nợ nần lút cổ, sự nghiệp tan hoang, lại c̣n bị án tù nữa. Mà việc của ở nhà tôi làm, th́ ở nhà tôi chịu, lại c̣n kéo luôn thầy, là người vô can, chỉ thương anh em, ra gánh vác giùm, mà thầy cũng bị án tù nữa, ở nhà hễ tôi nhớ tới thầy th́ đau đớn không biết chừng nào.
- Thầy Hội đồng mất hôm nào?
- Mất hôm bữa mùng bảy, bữa nay đúng hai thất, nên mẹ con tôi cúng đây.
- Bậy quá! Tôi xuống đây là xuống cho thầy Hội đồng hay rằng trong cái vụ tôi với thầy bị án đó, tôi chống án lên ṭa trên, nhờ anh của tôi lo lắng xuất tiền mướn trạng sư tốn hao gần một muôn, nên thẩy bỏ phú không đi hầu, song Ṭa trên xử tôi với thẩy đều được trắng án, khỏi tội ǵ hết.
- Được vậy hay sao? Trời đất ơi! Chớ chi Ṭa xử sớm sớm một chút, ở nhà tôi bớt buồn rầu, có lẽ khỏi chết. Mà thôi, phận thầy được khỏi tội, mẹ con tôi cũng mừng cho thầy. Tôi nói thiệt, thầy bị án, tôi chịu không được. Bây giờ thầy khỏi án, vậy mà thầy trở vô làm việc được hay không?
- Được. Tôi được trắng án nên nhà nước đă cho tôi phục chức thầy giáo lại rồi.
- May dữ hôn! Được vậy mẹ con tôi mới bớt buồn. Chớ việc của vợ chồng tôi, mà thầy mang họa th́ tôi xốn xang quá.
- Phần tôi hơn một năm nay thiệt tôi cũng buồn rầu hết sức. Nếu không có anh tôi lo lắng mà cứu tôi, hễ tôi bị ở tù th́ chắc tôi sống cũng không được. Nay phận tôi đă yên rồi, bây giờ tôi xin nói chuyện của thầy Hội đồng. Tôi xuống đây là cố ư muốn nói minh bạch chuyện của thầy cho thầy hiểu. Chẳng dè thầy đă mất rồi, vậy tôi phải nói với cô. Ngày Ṭa Trà Vinh kêu án tôi với thầy rồi đó, th́ thầy thối chí ngă ḷng, tính chịu ở tù, chớ không biết lo làm sao được. C̣n sự sản th́ thầy cũng tính để cho chủ nợ thi hành phát măi. Thầy với cô muốn cho tôi khỏi phiền, nên làm thêm một tờ nữa mà giao hết sự nghiệp cho tôi đặng tôi chống chỏi với chủ nợ, nếu chống được th́ tôi hưởng, c̣n như chống không được th́ tôi ở tù cho mát dạ tôi. Tôi vẫn biết cái tờ đó không ích ǵ, bởi v́ tôi có tờ mua làm trước đó cũng đủ phép rồi, cần ǵ phải làm tờ thêm mà giao nữa. Lại Chà Và nó kiện tứ tung tôi bị án rồi, tự nhiên Chà Và lấy ruộng đất và nhà cửa hết, tôi ăn sao được mà giao. Tôi về Sài G̣n, mong chạy cho khỏi án được là may, kể ǵ tới ruộng đất. Tôi năn nỉ với anh tôi, tôi cậy ảnh lo lắng cứu giùm cho tôi khỏi ở tù; nếu cứu được th́ ruộng đất đó ảnh giành với Chà Và mà hưởng, tôi không biết tới. Anh tôi xuất hơn một muôn đồng bạc, mướn hai ba ông trạng sư, biện lư hết sức, nên cứu tôi khỏi tù, mà giành lại ruộng đất nhà cửa với chủ nợ cũng được nữa. V́ vậy đó nên những tài sản hai ông bà giao cho tôi đó, bây giờ về anh tôi hưởng, tôi không được biết tới. Tôi xuống đây là cốt nhứt cho thầy Hội đồng hay thầy khỏi bị án, sau nữa tỏ vụ gia sản đó cho hai ông bà biết.
Vợ con Hội đồng nghe nói như vậy th́ nín khe. Cách một hồi lâu, vợ Hội đồng Lợi mới nói xuôi xị rằng: "Gia tài của tôi bề nào cũng thi hành phát măi hết. Vợ chồng tôi cùng thế rồi nên giao cho thầy. Thầy muốn giao lại cho ai là quyền của thầy, tôi có dám nói ǵ đâu"
Thầy Phát dọ được t́nh ư rồi thầy bèn nói rằng: "Tuy tôi giao trọn hết cho anh tôi rồi, nhưng mà hôm Ṭa xử anh tôi đặng kiện, tôi nghĩ thầy với cô trọng tuổi lại có cháu đông, nếu ruộng đất nhà cửa tiêu hết, th́ chỗ đâu mà ở, làm nghề ǵ mà ăn. Tôi mới năn nỉ xin anh tôi rộng ḷng cho bớt một cái nhà với năm mươi mẫu ruộng ở Tiểu Cần đặng hai ông bà ở và góp huê lợi lại ruộng ấy mà dưỡng già. Ban đầu anh tôi nói ảnh tốn hao trên một muôn đồng bạc, nếu ảnh cho th́ thiệt hại ảnh nhiều. Tôi theo năn nỉ trọn mấy ngày ảnh mới chịu cho như lời tôi xin. Vậy tôi xuống nói cho cô hay đặng lựa coi ai đáng tin cậy th́ cho tôi biết tên họ, đặng tôi làm tờ sang bộ lại cho, chớ để tên cô đứng bộ th́ chủ nợ họ kiện họ lấy liền, không ích ǵ".
Vợ Hội đồng mừng rỡ hết sức biểu con ra lạy thầy giáo Phát mà tạ ơn. Cô khóc và nói rằng: "Thầy làm anh em với nhà tôi không mấy ngày, mà thầy thương vợ chồng tôi, thầy lo lắng từ chút, thiệt tôi chẳng biết lấy lời chi mà tạ ơn cho vừa. Ở nhà tôi[5] đă mất rồi, mà thầy c̣n lo cho mẹ con tôi có chỗ ở, có cơm ăn, dầu đến chết mẹ con tôi chẳng quên cái ơn ấy. Việc sang bộ, để chậm ít ngày cho mẹ con tôi tính, chớ gấp quá tính không được. Như thầy có gấp về Sài G̣n, th́ chừng mẹ con tôi kiếm được người rồi, mẹ con tôi sẽ dắt lên trển làm tờ giấy cũng được vậy".
Khách đến dự đám tuần, ai cũng khen ngợi thầy giáo Phát có phước, có tài, lại biết nhơn nghĩa, biết thương yêu người hoạn nạn.
Vợ con Hội đồng Lợi ân cần mời quá, nên thầy Phát ở ăn cơm trưa và nói chuyện cho tới xế chiều mát rồi mới từ mà về.
Thầy ngồi xe hơi có một ḿnh ở phía sau, xe chạy ồ ồ, gió phất mát mặt. Thầy nhớ cách người quen biết họ trở mặt, đổi đời, th́ thầy tức cười thầm. Rơ ràng là lời của anh là Hà Tấn Phát và của bạn là Cao Lương Kư nói chẳng sai. Đời nầy chẳng c̣n luân lư nhơn nghĩa ǵ nữa hết. Phải gian xảo mới được người ta kính phục. Phải có tiền mới được người ta thương yêu. À! thế t́nh như vậy ḿnh không phải là thầy tu, th́ dại ǵ bo bo giữ luân lư nhơn nghĩa! Kia, cô Thiện Tú, cô c̣n biết ở theo thời thay, ḿnh là trai, há ḿnh không biết ở theo thời sao?
[1] (contrôleur), người phụ xế
[2] (set,tiếng Anh), cuộc
[3] người cởi ngựa đua
[4] tiếng Pháp “cercle” là hội, nhóm, chỗ gặp gỡ để chơi cờ bạc
[5] chồng tôi, vợ tôi
Lăng Tử
21-04-2009, 02:41 PM
Ở Theo Thời
Phần Chín (hết)
Thầy Hà Tấn Phát nghĩ ở bên Khánh Hội mỗi ngày đi làm việc xa đường, lại muốn ở một ḿnh đặng thong thả mà đọc sách, nên xin phép với anh chị rồi mướn một căn phố trệt đường Đất Đỏ mà ở. Hà Tấn Tài cho tiền sắm đồ dọn nhà lại mướn giùm cho một người đi chợ nấu ăn nữa.
Thầy giáo Phát ở Sài G̣n chẳng như thầy giáo Phát ở Tiểu Cần. Bây giờ thầy mặc đồ sắc sảo, nói chuyện lỗi lạc, thấy ai sái hay là chơi quấy th́ thầy rùn vai mà cười rồi bỏ qua, chớ không tức giận căi lẫy như hồi trước vậy nữa.
Thầy dọn nhà xong rồi mới viết thơ cho vợ Hội đồng Lợi hay và nhắc bà kiếm người đặng thầy sang bộ mà cho nhà cửa và năm mươi mẫu ruộng. Cách ít ngày vợ Hội đồng Lợi lên, lại có dắt con trai lớn là Hai Lộc đi theo.
Thầy Phát làm việc trưa về nhà, thấy có vợ con Hội đồng Lợi th́ thầy chào mừng lăng xăng rồi hỏi rằng: "Sao, cô có kiếm được người nào hay chưa? Tôi muốn làm cho rành rẽ; chớ tôi nói th́ là chắc, nếu kiếm không được ai th́ tôi đứng hộ luôn giùm cho cũng được vậy. Cô cứ ở luôn cái nhà đó, năm nay chừng gặt lúa th́ cô thâu góp cái sở năm mươi mẫu phía sau nhà đó mà lấy, rồi qua sang năm tôi sẽ giao đứt sở đó cho cô đặng cô trọn quyền, muốn cày cấy hay là cho mướn tuỳ ư".
Vợ Hội đồng Lợi ngồi lặng thinh suy nghĩ một hồi rồi chậm răi nói rằng: "Việc sang bộ chẳng khó ǵ. Tôi có hỏi rồi, họ nói chẳng cần kiếm ai làm chi, sang bộ cho thằng con tôi cũng được. Nhưng mà mẹ con tôi lên đây có ư muốn nói chuyện đó lại với thầy. Xin thầy thương, thầy là anh em, hồi trước cha của bầy trẻ tin cậy thầy, nên mới nhờ thầy đứng bộ giùm, chớ không phải bán chác ǵ. Nay thầy tính như vậy tội nghiệp cho mẹ con tôi quá".
Thầy giáo Phát châu mày, ngó ngay vợ Hội đồng Lợi mà hỏi rằng: "Cô nói cái ǵ vậy? Giấy tờ đă làm rành rẽ, tôi tốn mấy muôn đồng bạc, mới khỏi ở tù, và mới giữ được cái gia tài đó. Bây giờ cô biểu trả hết cho cô hay sao?"
Hai Lộc bước lại gần mà nói rằng:
- Bẩm thầy, mẹ con tôi cũng biết thầy tốn hao nhiều mà chống cự với chủ nợ, nên mới giữ gia tài được đó. Mẹ con tôi xin thầy cho mẹ con tôi thối cái tổn phí đó lại cho thầy, rồi thầy cho hết ruộng đất lại, chớ thầy cho năm chục mẫu, c̣n thầy lấy sáu trăm mẫu th́ ức mẹ con tôi quá.
- Ai bày khôn cho chú đó? Sao hồi Chà Và nó làm cho tôi với ông già chú bị án, chú không ra mà lo cho tôi khỏi ở tù, chú để cho tôi làm, nay được kiện chú tới mà đ̣i hết gia tài lại. Tôi lấy nhơn nghĩa mà ở với chú, chú không biết ơn, lại trổ ṃi điếm mà nói với tôi. Chú làm hơi khôn, thôi tôi không cho ǵ hết.
- Bẩm thầy, tôi có nói ǵ đâu mà thầy cho tôi là điếm. Hồi trước cha tôi cậy thầy đứng bộ giùm, chớ có bán cho thầy đâu. Bây giờ thầy cho lại có năm mươi mẫu th́ ức cho mẹ con tôi quá, xin thầy nghĩ lại đó mà coi.
- Phải, hồi trước tôi đứng bộ giùm, mà chừng bị án rồi, ông già chú c̣n làm thêm cái tờ giấy mà giao đứt cho tôi, giấy ấy mẹ con chú có kư tên lăn tay đủ phép, bây giờ chú c̣n nói ǵ nữa.
- Bẩm, hồi đó dại nên mới đứng vô giấy đó chớ.
- Dại th́ chịu. Tôi v́ ông già chú mà tôi bị án, chuyện ấy chú không kể! Chú muốn đ̣i hết lại, ví như tôi dở, Ṭa xử y án Ṭa sơ, tôi bị ở tù, Chà Và hủy tờ mua rồi thi hành phát măi hết, chú mới làm sao? Tôi nói cho chú biết: Tôi vay tiền bạc của anh tôi đặng tôi mua gia tài đó. Tôi không có trả tiền, anh tôi lấy hết rồi, bây giờ không có đất đâu mà cho. Về kiếm nhà khác mà ở đi, chớ ít bữa nữa đây sẽ có trưởng Ṭa đuổi ra khỏi nhà đa.
- Bẩm thầy, nếu thầy làm ức quá như vậy th́ tự nhiên tôi phải kiện.
- Chú giỏi chú muốn kiện tới đâu th́ kiện đi. Kiện th́ tôi đi hầu. Thôi, về đi kiện đi. Tôi không có đất đâu mà cho, mà tôi cũng không nói chuyện ǵ nữa hết.
Vợ Hội đồng Lợi đứng dậy nói rằng: "Bẩm thầy như vậy th́ ức quá, ít nào thầy cũng chia hai ra chớ".
Thầy giáo Phát nạt rằng: "Thôi, người không biết phải quấy, bây giờ một công đất tôi cũng không thèm cho, đừng có nói dài". Thầy nói dứt lời, liền bỏ đi vô buồng. Vợ con Hội đồng Lợi thủng thẳng bước ra cửa.
Thầy giáo Phát tưởng cho nhà cửa với năm mươi mẫu ruộng là làm ơn nhiều lắm rồi, không dè người ta tham quá muốn đ̣i hết lại; đ̣i không được, lại xin chia phân nửa, bởi vậy thầy giận hết sức, chiều qua Khánh Hội mà thuật lại chuyện ấy cho anh chị nghe. Hà Tấn Tài nghe rồi cũng nổi giận nên nói rằng: "Em thấy thiên hạ hay chưa? Họ tham lắm, có ít rồi họ muốn thêm cho nhiều. Em nghe lời qua, đừng thèm cho ǵ hết".
Vợ con Hội đồng Lợi mướn một cái pḥng trong khách sạn mà nghỉ. Hai mẹ con bàn tính với nhau coi bây giờ phải làm sao. Hai Lộc nói cho mẹ biết ḿnh hăm kiện là có ư dọa, chớ Chà Và c̣n phải bị bác đơn, ḿnh đă có làm thêm một tờ mẹ con đồng đứng mà giao đứt gia tài cho thầy Phát, th́ có thế ǵ mà kiện cho được. Bây giờ ḿnh năn nỉ xin cho lănh nhà cửa và năm mươi mẫu ruộng th́ chắc được rồi. Mà trước khi xin lănh số đó, ḿnh nên dùng đủ cách thử coi, như đ̣i hết lại được không, th́ ít nào cũng đ̣i được phân nửa.
Hai Lộc có một người bằng hữu làm việc tại Sài G̣n. Anh ta bèn đi kiếm người ấy mà thuật rơ việc nhà và hỏi coi bây giờ phải làm thế nào mà đ̣i gia tài lại.
Người bạn công nhận nếu vào đơn nơi Ṭa Hộ mà kiện, th́ chắc phải thất, rồi lại c̣n bị tổn phí đơn án nữa. Người khuyên Hai Lộc nên cậy sức một tờ báo chữ Pháp mà công kích thầy Hà Tấn Phát, nếu bị nhựt báo công kích, th́ tự nhiên thầy lo sợ, chừng ấy ḿnh tới thương nghị chắc có lẽ thầy sẽ trả nhiều hơn cho êm. Hai Lộc khen kế hay và cậy người bạn điều đ́nh giùm.
Cách vài ngày sau, tờ báo "Nam Kỳ" khởi đăng bài nói thầy giáo Hà Tấn Phát lănh trách nhậm giáo dục, nhưng mà sở hành của thầy trái với luân lư, trái với nhơn đạo. Nhà nước bổ thầy đi dạy ở Tiểu Cần, thầy làm bộ nhỏ nhoi, làm bộ thiệt thà đặng mua ḷng công chúng. Ông Hội đồng Bành Đại Lợi là một vị điền chủ lớn lại có ḷng hào hiệp, v́ trong nhà có việc, nên cậy thầy đứng bộ ruộng đất giùm, thầy thừa cơ đoạt hết sự nghiệp người ta làm cho Hội đồng Lợi rầu rĩ phát đau mà chết, rồi bây giờ vợ con nghèo nàn hết sức.
Báo "Nam Kỳ" công kích luôn cho tới ba bài. Bài thứ ba nói vắn tắt như vầy:
"Trong mấy số báo trước, chúng tôi v́ luân lư, v́ nhơn đạo, mà lôi thầy Hà Tấn Phát ra giữa ṭa án dư luận. Chúng tôi mới hay vợ con Hội đồng Lợi quyết không chịu nhịn, đương sắp đặt tố cáo người bất lương ấy với quan trên và xin quan trên trừng trị đặng răn kẻ khác. Vậy chúng tôi tạm ngừng vụ nầy để đợi coi sự tố cáo của vợ con Hội đồng Lợi kết quả thế nào, rồi chúng tôi sẽ cho chư quư độc giả hay tiếp".
Thầy Hà Tấn Phát thấy báo "Nam Kỳ" công kích, th́ thầy hiểu ư vợ con Hội đồng Lợi dùng chước hăm dọa. Thầy để ư đợi coi có ai lại tới nhà mà nói giùm vụ gia tài, th́ thầy sẽ thưa cho c̣ bót bắt giải Ṭa, làm một lần cho thiên hạ biết cái nghề nhục mạ và hăm dọa người cũng có chỗ nguy hiểm.
Thầy đợi mấy bữa mà không thấy ai tới nhà. Một buổi chiều, lúc tan hầu, thầy Hà Tấn Phát ra về, vừa ra cửa gặp thầy Lư Kỳ Phùng là thầy dạy lớp nhứt ở tỉnh Vĩnh Long, vốn là thầy của thầy giáo Phát hồi trước. Thầy tṛ gặp nhau mừng rỡ, Thầy giáo Phát ân cần mời thầy về nhà.
Thầy giáo Phát hỏi thầy lên Sài G̣n chơi hay là có việc chi. Thầy Phùng dụ dự một hồi rồi tỏ thiệt rằng: "Chẳng giấu chi em, thầy xin phép mà lên Sài G̣n đây cũng có việc riêng một chút. Số là thầy dạy học năm nay đă hơn hai mươi lăm năm rồi, công phu dày lắm, bởi vậy ông Đốc học chạy giấy xin mề-đay[1] cho thầy đă ba kỳ rồi, mà không biết tại sao thầy chưa được. Thầy mới hay em đă được quan trên bổ vào làm việc tại Học viện quản lư văn pḥng, nên thầy lật đật lên đây cậy em coi chừng giùm, nếu em có thế giúp lời được, th́ xin em vui ḷng giùm cho thầy, việc ấy thầy mang ơn lắm. Thầy cũng biết đời nầy tiền bạc là quí, chớ đồ đó không ích lợi ǵ, nhưng mà ḿnh làm việc lâu năm, phải có đỏ đen với người ta, chớ trụi lủi coi cũng kỳ. Vậy em ráng giùm với thầy".
Thầy Phát nghe nói th́ tức cười thầm, nhưng v́ bởi trọng đạo thầy tṛ, nên thầy không dám b́nh luận, mà c̣n lại phải hứa lời.
Lư Kỳ Phùng muốn từ giả ra khách sạn mà nghỉ đặng khuya lên xe hơi mà về Vĩnh Long. Thầy Phát không cho, ân cần cầm ở lại mà nghỉ rồi khuya ra xe cũng về được.
Ăn cơm rồi Lư Kỳ Phụng hỏi thầy Phát rằng:
Lăng Tử
21-04-2009, 02:41 PM
- Nè em, em làm sao mà hơn một tuần nay nhựt tŕnh nói em lung quá vậy? Chuyện thiệt có như vậy hay không?
- Thưa thầy, th́ chuyện đó nhưng mà không phải như nhựt tŕnh "Nam Kỳ" nó nói đâu.
- Em phải làm sao, chớ để "Nam Kỳ" nói hoài sợ e quan trên không vui, mà công chúng họ cũng dị nghị.
- Đối với quan trên th́ em có làm đơn cắt nghĩa rành rẽ rồi. C̣n đối với nhà báo "Nam Kỳ" th́ hổm nay em có ư chờ, nếu họ sai ai lại nói lôi thôi về vụ đó th́ em sẽ kêu lính bắt. Xin thầy chẳng nên lo cho em, thầy chẳng cần để ư đến làm chi. Tờ báo đó nó nói xấu cho em, th́ sẽ có hai ba tờ báo khác, biết rơ công việc, nên em sẽ đính chánh lại.
Hai thầy tṛ đương nói chuyện tới đó, th́ có một người phắt-tơ đi phát thơ, đem hai số nhựt tŕnh[2] mà đưa cho thầy Phát. Thầy Phát giở luôn hai tờ nhựt tŕnh ra, lật coi sơ qua rồi nói rằng: "Đây, báo "Tấn Bộ" và báo "Sự Thật" bữa nay nói tới vụ của em rồi đây. Để em đọc cho thầy nghe."
Thầy Phát trải tờ báo "Tấn Bộ" trên mà đọc như vầy:
"Chẳng nên làm nhục nghề viết báo
Theo xă hội hiện thời, báo giới là một cái cơ quan mạnh mẽ, để d́u dắt dư luận, để chỉ trích lộng quyền, để biện bác ngay gian, để binh vực công lư. Nói tóm một lời, báo giới cũng có một phần trách nhiệm về cuộc thực dân trị nước.
V́ tôn chỉ của báo giới cao thượng như vậy đó, nên người viết báo cần phải cẩn thận, bài ấn hành cần phải đúng đắn mới được, chớ nghị luận phê b́nh mà không đúng công lư, th́ chẳng những làm sái cái tôn chỉ của báo giới mà thôi, mà lại c̣n làm nhục cái nghề viết báo nữa.
Chúng tôi lấy làm buồn thấy có một ông bạn đồng nghiệp chữ Pháp v́ lợi hay v́ hờn riêng chi đó, rồi không kể tôn chỉ của báo giới, không trọng chức nghiệp của người chấp bút, nên suốt một tuần nay xướng lên công kích một vị giáo sư rất đúng đắn là M. Hà Tấn Phát, công kích một cách kịch liệt mà rất vô lư. Từ bữa ông bạn đồng nghiệp khởi trận bút, th́ chúng tôi đă rơ thấy ông bạn v́ cớ nào mà sanh sự, chớ chẳng phải v́ ai oán ức hay là v́ ai bị hiếp. Tuy vậy mà chúng tôi không muốn phản đối liền, ư chúng tôi muốn một là coi cử chỉ ông bạn ra thể nào, hai là cho người xuống phỏng sự Tiểu Cần điều tra. Nay cuộc điều tra của chúng tôi đă hoàn toàn rồi, chúng tôi cầm đủ trong tay những bằng cớ chứng chắc ông giáo sư Hà Tấn Phát là một người trọng nhơn nghĩa, chớ không phải người giựt của, mà lại chỉ rơ tờ báo Nam Kỳ binh kẻ vong ân mà vu cáo người ngay thẳng. Chúng tôi xin độc giả đợi số báo sau chúng tôi sẽ đăng các bằng cớ ấy rồi gỡ mặt nạ của kẻ vong ân bội nghĩa cho công chúng thấy chỗ ngay gian."
Thầy Phát đọc dứt rồi thầy và xếp tờ nhựt tŕnh và cười và nói với Lư Kỳ Phùng rằng: "Thầy thấy hay chưa? Em có làm ǵ đâu. Để em đọc luôn bài kia nữa coi họ nói giống ǵ". Thầy bèn mở tờ báo Sự Thật ra mà đọc như vầy:
"Chẳng nên cáo gian
Gần một tuần nay, báo Nam Ky khai bút mà công kích giáo sư Hà Tấn Phát là một đấng thanh niên gồm đủ văn học với đạo đức. Những người quen biết giáo sư Phát ai hay tin cũng bất b́nh, nên đến tại bổn báo mà than phiền và xin bổn báo điều tra coi thiệt ông giáo sư Phát có tàn nhẫn đến nỗi gạt người mà đoạt hết sự nghiệp hay không.
Chúng tôi v́ công lư, nhứt là tôn chỉ của bổn báo, nên điều tra rất kỹ lưỡng. Chúng tôi thấy rơ báo Nam Kỳ cáo gian. Chúng tôi thuật lại cái vụ mà ông giáo sư Phát bị công kích đó ra sao đây cho tường tất đặng công chúng định tội báo Nam Kỳ là một tờ báo chuyên nghề nói xấu thiên hạ.
Ông giáo sư Hà Tấn Phát, năm trước dạy lớp nhứt trường sơ học Tiểu Cần, có kết bạn cùng ông Hội đồng Bành Đại Lợi là một vị điền chủ có năm sáu trăm mẫu ruộng mà mắc nợ gần một trăm ngàn đồng. Ông Hội đồng Lợi mắc nợ mà trót mấy năm thâu lúa ruộng bao nhiêu ông cứ để xài, không trà lời trả vốn chi hết. Hai người chủ nợ dọa hăm kiện. Ông sợ họ thi hành phát măi hết nhà cửa ruộng đất hết, nên năn nỉ ông giáo sư Phát, xin làm ơn mua giùm sự sản của ông trước khi chủ nợ vô đơn kiện. Ông định bán hết nhà cửa, một trăm năm mươi mẫu ruộng ở Tiểu Cần với năm trăm mẫu ruộng ở Phước Long giá là bảy chục ngàn đồng bạc. Ông giáo sư Phát tuy không có số bạc lớn như vậy, nhưng mà ông có một người anh, là M. Hà Tấn Tài ở Khánh Hội, Đất Sài G̣n ai cũng biết là một vị cự phú. Ông Phát về thương lượng với ông Tài, rồi ông Tài mới cho ông vay số bạc tám chục ngàn đồng mà mua hết sự sản của ông Lợi. Thiệt ông Phát ra mua ruộng đất đây là v́ thấy gia đạo của ông Lợi bối rối th́ thương, mà giá định đó có rẻ một chút, nếu để người khác mua cũng uổng. V́ chủ nợ không thèm ốp bộ ruộng đất trước, nên giấy tờ làm xong, tiền bạc chồng đủ, th́ ông cải bộ cho ông Phát đứng liền. Chủ nợ của ông Lợi hay ông ta lật nợ th́ tức giận, bèn vào đơn mà kiện nhứt diện xin Ṭa buộc chủ bán với chủ mua về tội sang đoạt, nhứt diện, xin Ṭa hủy tờ mua bán đặng lấy gia tài của ông Lợi mà thi hành, Ṭa sơ xử ông Lợi với ông Phát âm mưu sang đoạt của chủ nợ nên phạt ông Lợi một năm tù và phạt ông Phát sáu tháng tù. Ông Phát sợ mất bảy chục ngàn đồng bạc mà c̣n lại ở tù, nên không nghe cho ông Lợi. Ông Lợi sợ nếu trả bảy chục ngàn đồng bạc lại cho ông Phát, th́ ông Phát không lo nữa, rồi ḿnh phải ở tù mà lại ruộng đất c̣n bị chủ nợ thi hành, bởi vậy ông nói bạc đă tiêu xài hết rồi và ông cùng vợ con làm thêm một tờ nữa mà giao đứt sự nghiệp hết thảy cho ông Phát nếu ông Phát chống cự với chủ nợ được th́ lấy luôn gia tài ấy, c̣n như thua th́ mất bảy chục ngàn đó. Ông Phát cùng thế nên phải ép ḷng mà chịu, rồi xin chống án lên Ṭa trên. Ông phải vay thêm mấy chục ngàn nữa mà lo mướn trạng sư căi giúp mới đặng kiện, khỏi tù và khỏi mất đất. Ông Lợi không lo ǵ hết, mà nhờ đó cũng bị khỏi án. Ông không thiệt hại chỗ nào hết, bởi v́ ông thiếu nợ số đó bề nào ruộng đất cũng tiêu, bây giờ ông tiêu ruộng đất, mà khỏi bị án, lại có thêm bảy chục ngàn th́ ức nỗi ǵ? Ngày ông Phát đặng kiện th́ ông Lợi đă chết rồi, ngày giờ đó bằng cớ chắc chắn, tại sao mà dám thêu dệt rằng ông Phát giựt gia tài nên ông Lợi tức mà chết? Ông Phát là người thiệt đúng đắn, v́ t́nh anh em mà thiếu chút nữa ông bị mất bảy chục ngàn đồng bạc, và bị ở tù th́ bị mất chức, tuy vậy mà ông không phiền. Khi đặng kiện rồi th́ ông liền xuống Tiểu Cần mà thăm vợ con Hội đồng Lợi. Ông thấy ông Lợi mất, ông nghe vợ con ông Lợi than không nhà mà ở, không ruộng mà làm, ông động ḷng thương nên v́ nghĩa cựu giao, ông mới hứa cho nhà cửa và năm chục mẫu ruộng. Vợ con ông Lợi mừng quá nên giữa đám tuần có đông người ra lạy mà tạ ơn. Cách ít ngày vợ con ông Lợi lại nghe lời kẻ bất lương xúi giục, lên Sài G̣n kiếm ông Phát đặng hăm dọa đặng đ̣i lại hết gia tài lại. Chư đọc giả nghĩ đó mà coi, ông Phát vay bạc mà mua có bằng cớ hẵn ḥi, mua ruộng đất nhà cửa có giấy tờ đủ phép, Hội đồng Lợi với vợ con làm thêm tờ mà giao đứt ruộng đất, ông Phát cũng c̣n cầm tờ giấy trong tay, bây giờ ông Phát thấy nghèo nên cho lại năm chục mẫu ruộng với nhà cửa giá đáng vài muôn đồng bạc, th́ là ông Phát tử tế quá, sao lại vu cho ông đoạt điền sản. Chúng tôi nghe nói bây giờ ông Phát phiền, ông nhứt định không cho một công đất nào hết. Ấy vậy vợ con Hội đồng Lợi mà không có nhà ở, không có ruộng làm đây, lỗi tại người chủ mưu bày quấy. Chúng tôi tưởng bây giờ vợ con Hội đồng Lợi phải đến nhà người nào bày mưu đó mà mắng rồi đến năn nỉ lạy ông giáo sư Phát mà chịu lỗi và xin lănh nhà cửa với năm chục mẫu ruộng cho rồi. Chúng tôi biết ông giáo sư Phát là một người độ lượng lớn, chí khí cao, không lẽ ông cố chấp người có lỗi mà không biết lỗi".
Thầy Phát đọc xong rồi thầy buông tờ nhựt báo ngó Lư Kỳ Phùng mà nói rằng: "Đó thầy xét coi em xấu chỗ nào? Kẻ quấy nói bậy, người phải thế cho em mà phản đối lại liền".
Ông Lư Kỳ Phùng ngồi suy nghĩ một hồi rồi nói rằng:
- Đọc "Nam Kỳ" hổm nay thấy em xấu lắm, bây giờ đọc hai tờ báo nầy th́ thấy em lại phải, họ nói lộn xộn quá biết đâu mà tin.
- Thầy chẳng cần phải kiếm mà tin làm chi cho thất công, bởi v́ cả ba tờ báo đều nói không đúng với sự thật hết thảy.
- Ủa! Sao vậy? Vậy chớ sự thiệt ra làm sao?
- Thưa, sự thiệt như vầy, em giấu ai chớ không lẽ giấu thầy: Hội đồng Lợi mắc nợ nhiều quá, sợ chủ nợ kiện mà thi hành sự sản, mới lập mưu lật nợ, cậy em cho mượn tên đặng sang bộ cho em đứng giùm. Em không có mua, mà cũng không có xuất một đồng bạc nào hết, tiền làng thị nhận và tiền đóng bách phần, Hội đồng Lợi đều bao hết thảy. Em mới ra khỏi nhà trường không hiểu luật pháp về điền thổ, không dè làm như vậy là có tội. Chừng chủ nợ đâm đơn kiện, quan trên ngưng chức em, rồi Ṭa lại xử em sáu tháng tù, th́ em hết hồn hết vía, chạy qua Tiểu Cần hỏi Hội đồng Lợi coi phải làm sao. Hội đồng Lợi vô phương tận kế, v́ bị lo cái kiện dưới Ṭa sơ đă hết tiền, nên nói xuôi xị, đành chịu ở tù và để ruộng đất cho chủ nợ thi hành phát măi. Ông nghĩ, em làm ơn mà phải bị án, ông sợ em phiền, nên ông mới làm thêm một tờ, biểu vợ con đứng vô, mà giao hết sự nghiệp cho em, ngày sau không được phép kêu nài. Em vẫn biết ông làm như vậy là muốn làm cho mát ruột em đó thôi, chớ sợ em ở tù, Ṭa đă làm án rồi, gia tài chắc sẽ bị chủ nợ đem ra phát măi, em làm sao hưởng được mà giao. Em ở phải, nên Trời Phật không bỏ em. Em chống án lên Ṭa trên, nhờ có người anh của em lo lắng giùm, tốn hao gần chín ngàn đồng bạc, em mới khỏi bị án và mới được làm chủ gia tài ấy. Thầy nghĩ đó coi, em mà hưởng được gia tài của Hội đồng Lợi là nhờ phước đức riêng của em, nhờ Phật Trời giùm giúp, nhờ công của người anh em lo giỏi, chớ em có giựt của Hội đồng Lợi đâu. Như muốn nói em giựt, th́ là giựt của chủ nợ, chớ Hội đồng Lợi bề nào gia tài cũng tiêu rồi, em có giựt của ổng đâu. Mà chủ nợ lấy lời đă quá số vốn rồi, dầu thi hành ruộng đất không được cũng không thiệt hại ǵ đó. Bởi em không có ác tâm, nên đặng kiện rồi, em xuống thăm vợ con ông Hội đồng Lợi, em hứa cho lại nhà cửa với năm mươi mẫu ruộng. Em làm ơn mà gần thọ hại, em lấy hết cũng không oán trách ǵ được. Em cho lại một mớ là may, sao lại không biết ơn, mà c̣n kiếm chuyện công kích em. Muốn tốt th́ em tốt, muốn xấu th́ em xấu với. Bây giờ em lấy luôn hết cho biết mặt em.
- Nếu vậy th́ báo "Nam Kỳ" nói phải, người ta mượn em đứng hộ giùm rồi em lấy luôn.
- Thưa phải. Nói chỗ đó th́ lầm, song có lời giao, hễ em làm được th́ em hưởng hết, bây giờ đặng kiện th́ em lấy, chớ em có cướp giật ǵ đâu.
- Em nói phải, nhưng mà lấy hết th́ trái đạo nghĩa một chút.
- Em xin lỗi thầy, đời nầy mà đạo nghĩa ǵ.
- Em nói sao vậy? Ở đời bề nào cũng phải giữ cang thường luân lư, cũng phải giữ nhơn nghĩa đạo đức làm gốc chớ.
- Thưa thầy, em thất nghiệp gần một năm rưỡi ở Sài G̣n, em quan sát nhơn t́nh thế thái kỹ lưỡng, em thấy rơ thiên hạ đời nầy họ không lấy cang thường luân lư hay nhơn nghĩa đạo đức mà làm gốc đâu. Bất luận là bực nào họ đều đua nhau mà làm cho có tiền, đời nầy tiền là gốc, chẳng có cái ǵ quư hơn tiền được hết.
- Thiên hạ họ làm sao họ làm, ḿnh cứ nắm giữ lời thánh hiền xưa chớ.
- Lời thánh hiền! Lời thánh hiền hay là hay hồi đời thánh hiền đó ḱa, chớ theo bây giờ th́ em coi giở quá, mà ḿnh làm theo lại hại cho ḿnh nữa chớ. Thầy nghĩ đó coi, như thánh hiền xưa nói: "Hoạnh tài bất phú". Trời ơi, sao lại bất phú? Không nhọc sức mà được tiền, th́ là sướng lắm, mà hễ được tiền th́ làm giàu ngay, tại sao mà nói bất phú. C̣n câu: "Tiền tài như phấn thổ" th́ sai nhiều nữa. Tiền tài là tiền tài, chớ tiền tài như phấn thổ sao được. Em nhớ câu: "Nhơn nghĩa thắng thiên kim" em bắt tức cười. Đời nầy nhơn nghĩa thắng thiên kim không nổi đâu. Ḿnh nghèo ḿnh nói nhơn nghĩa ai thèm nghe chớ họ có thiên kim họ nói bậy thiên hạ cũng dạ rân. Lại có câu "Nghèo cho sạch, rách cho thơm". Thầy xét cho kỹ mà nói, nghèo mà sạch giống ǵ, rách mà thơm sao được, phải giàu người ta mới khen sạch, phải lành người ta mới khen thơm chớ.
Ông giáo Lư Kỳ Phùng ngồi thở ra mà nói rằng: "Em luận th́ trái đạo lư, song nghe cũng có chỗ phải".
Thầy Phát cười mà nói tiếp rằng: "Em xét kỹ rồi, tiền là cái nghĩa của sự sống đời nay. Chung quanh chúng ta đây, mà khắp trên mặt địa cầu cũng vậy, ai cũng mưu làm cho có tiền. Hễ có tiền nhiều là cao sang, c̣n không tiền th́ là thấp hèn. Thiên hạ ai cũng lo giành giựt tiền bạc, nếu ḿnh bo bo nắm chặt nhơn nghĩa, th́ té ra ḿnh khờ hơn người ta quá. Ở đời nào phải làm theo đời nấy. Ḿnh giữ cái nhơn nghĩa mà đối với cái đời tiền bạc nầy, th́ ḿnh đă thua sút người ta, mà lại c̣n bị người ta chê cười nữa. Xin thầy xét cho kỹ coi có phải như vậy hay không?"
Ông giáo Phùng châu mày gặc đầu, không căi nữa.
Khuya ông thức dậy sửa soạn ra xe mà về. Thầy Phát đưa ông ra bến xe. Lúc đứng chờ xe, thầy thấy ông có sắc lo, th́ thầy nói rằng: "Bẩm thầy, hồi hôm em hầu chuyện với thầy, những lời em nghị luận có nhiều câu vô lễ, mà lại có nhiều câu lại quá đáng nữa. Em xin thầy thứ tội cho em. Bây giờ tánh t́nh em đổi khác hơn xưa, là v́ em thấy đủ nhơn t́nh thế thái rồi chán ngán quá. Em làm phải, em bị người ta khi; em ở phải, em bị người ta gạt. Em làm quấy, em được người ta khen; em ở quấy, em được người ta trọng. Cái đời như vậy, th́ cần ǵ mà lo phải quấy. V́ vậy đó nên em phải lập tâm lăn lộn theo thiên hạ, đặng cho hiệp với nhơn t́nh, đặng khỏi thua sút người ta. Em tự quyết từ rày sắp lên đối với người đời, em chẳng để cho họ khi hay là gạt được em nữa đâu. Thiên hạ cư xử thế nào, em cũng cư xử theo họ như vậy. Tuy vậy mà dầu làm theo thiên hạ chớ cái gốc đạo đức em vẫn nắm vững bền, cái ḷng nghĩa nhơn em vẫn nuôi kỹ lưỡng; nắm đạo đức, nuôi nghĩa nhơn đặng em vui riêng cái thú của em, dầu ai biết hay là không biết cũng chẳng quan hệ ǵ, miễn lương tâm em thơ thới th́ đủ. Xin thầy đừng có lo những lời em luận hồi hôm đó mà đoán cho em đă trở nên một đứa gian xảo trá. Đối với thiên hạ th́ em cũng là một "thằng điếm trong một xă hội" nầy như họ vậy, nhưng mà thằng điếm có lương tâm, có nhơn nghĩa. Tuy vợ con Hội đồng Lợi đối với em khiếm nhă, em giận em nói vậy, chớ bề nào rồi em cũng làm có nhà mà ở, có ruộng mà làm. C̣n em có lấy cho phần em bao nhiêu, th́ em lấy đặng dùng mà làm việc nhơn nghĩa với đời, cho thiên hạ biết "tiền bạc là quư mà phải dùng nhằm chỗ mới quư", chớ không phải em lấy đặng xài phí bậy bạ như người ta vậy đâu".
Ông giáo Phùng chăm chỉ nghe dứt rồi, ông vỗ vai thầy Hà Tấn Phát mà cười mà nói rằng: "Vậy mới đúng! Hồi trước thầy truyền cho em cái nhơn đạo mà thôi, bây giờ em cải lương chế sửa cái nhơn đạo ấy cho thích hiệp với thời cuộc, th́ hay lắm, thầy cũng chịu, chớ không c̣n căi cái ǵ nữa".
Xe bóp kèn thúc hành khách, thầy tṛ bắt tay nhau mà từ biệt, thầy lên xe, tṛ trở về.
Sài G̣n 1935.
[1] tiếng Pháp (médaille), huy chương
[2] báo
***************************************
Hết
Xa xôi
21-04-2009, 02:49 PM
Ôi, Lăng tử cũng thích Hồ biểu chánh hả? Cám ơn đă tiếp nha. Đang t́m Một truyện ngắn rất hay của Hồ Biểu Chánh viết về một lời trêu ghẹo của một chàng học tṛ với cô gái quê mùa tên Na, mà quên mất tên. May là có Lăng tử post giúp rồi. Cám ơn nhé!
Các bạn cũng có thể vào đây để đọc thêm: [Only registered and activated users can see links] Có người đọc sẳn cho nghe nữa đó. Post dài quá mọi người cũng ngán đọc hỉ? ( cười)
vBulletin® v3.7.4, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.